Wednesday, 1 August 2012

Người việt nam hèn hạ

Huyet-Hoa 2012/08/01
Hanwonders (lảm nhảm)

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.
Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.
Cách đây đã lâu, tôi đọc “Người Trung Quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay / dở / đúng / sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương.
Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” và nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?
Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?
Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.
Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm !!!”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền CS việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng thằng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.
Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..
Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một phỉ quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.
Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.
Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?
Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…
Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.
Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.
Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!
… còn rất nhiều tin.
Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?
Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.
Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:
- Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
- Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
- Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!
Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.
Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.
Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?
Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.
Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Nghe nói cụ Tản Đà có câu:
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.
Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.
Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?
Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?
Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?
Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?
Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.
Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.
Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?
Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.
Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?
Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TC không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái phỉ quyền nào mà “đĩ” như phỉ quyền CS việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?
Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TC hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

Vắt chanh bỏ vỏ : bản chất của VC

bệnh viện và các phóng viên về vụ việc này.

Hành động
vắt chanh bỏ vỏ của ngành ngoại giao cộng sản Việt Nam nói trên đang làm dư luận Đức bất bình. Một tổ chức thân cộng có tên là Hội Đức-Việt (Deutsch - Vietnamesische Gesellschaft) đã gửi thư đến nhiều tư nhân để xin tiền nhưng giấu nhẹm lai lịch ông ta là cán bộ của đại sứ quán Việt Nam ở Berlin. Sau khi hiểu rõ nội vụ và biết lai lịch của đương sự, nhiều người đã phản ứng mạnh mẽ. Họ cho rằng hội này đã tìm cách lợi dụng lòng từ thiện của họ. Họ không muốn giúp vì không muốn tiếp tay cho một nhà nước gửi người bệnh sang một quốc gia khác với ý định để cho ngân sách xã hội và những nhà hảo tâm của quốc gia đó trả tiền điều trị.

Người chịu trách nhiệm chính trong vụ xì căng đan này là bộ trưởng ngoại giao
Phan Bình Minh. Dù biết hay không biết thì Phan Bình Minh cũng phải chịu trách nhiệm. Trong trường hợp ông không biết thì lỗi của ông là không quản lý được thuộc cấp. Người chịu trách nhiệm trực tiếp là bà Nguyễn Thị Hoàng Anh hiện giữ chức "Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức". Bà Hoàng Anh là người từng học luật tại Đức và có nhiều năm làm vụ trưởng vụ luật pháp quốc tế trong bộ ngoại giao. Như vậy viên đại sứ này hẳn phải đọc được các bài báo Đức nói trên và am hiểu thông lệ ngoại giao. Đại sứ Hoàng Anh phải chịu trách nhiệm vì đã làm ngơ không giúp một cán bộ trong cơn thập tử nhất sinh và không báo cáo về cho bộ chủ quản giải quyết.


Cao Minh
danlambaovn.blogspot.com

Tổ Quốc Lâm nguy !!!

par Du-Ha Kim Nguyen, vendredi 27 juillet 2012, 16:34 ·
Mời đọc kỹ 10 điểm bên dưới đăng trên mạng "Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn" để thấy rõ thái độ ngạo mạn, xấc xược của kẻ bá quyền phương bắc coi thường lòng dân Việt Nam. Đây chính là tham vọng thực dân bất chính sẵn có trong máu huyết của chúng từ trước đến nay.

Ai không đọc được Hán Tự, mời đọc bản dịch bên dưới.

南沙群岛本是中华母亲胸前璀璨的珍珠项链,却被诸多宵小或偷或抢、你争我夺,只闹的珠光散乱、岛礁蒙尘,其中气焰最为嚣张、抢占数量最多的便是狂妄自大、忘恩负义之辈——越南。

想 那越南原为我国藩属,1885年中法安南之役清廷将其割让给法国,遂成为法属殖民地,二战后是中国助其战败法国、赶走美帝,南北 得以统一。不料此獠非但不思感恩,反而以怨报德,竟然以世界第三军事大国自居,频频向中国寻衅,虽经中越边境反击战和赤瓜礁海战两次教训,依旧不服不忿, 变本加厉地抢占了更多岛礁。因其下手较早,所盘踞之地往往居住条件较好,且有淡水水源,越南便在上面修建机场,建造移动通讯设施,还向岛礁移民,组织国际 旅游,并设置县级行政区划,妄图将霸占的地域永久化、实事化、国际化、合法化。另有菲、马、印尼、文莱等国也纷纷效仿,在我国南沙海域或建设军事基地,或 钻井开采石油,全然不把中国放在眼里。

周边各国抢占南沙岛礁之时,正值我国实行改革开放方针、和平崛起战略之际,出于对 内集中精力抓经济建设、对外维持和平发展环境的需 要,基于都是发展中国家、理应和平解决纠纷的美好愿望,我国提出了“搁置争议,共同开发”的倡议。然而,三十多年来相关国家置我们的善意于不顾,不断加快 侵蚀我国海疆的脚步,公然将我国领土领海据为己有。可见,好心未必就有好报,国家尊严和领土领海完整仅靠和平交涉难以维护。联合国大陆礁层委员会规 定,2009年5月12日为有关国家对其大陆架和专属经济区的主权要求提出科学依据、完成申请的最后期限。事态的发展将使问题越来越复杂化,时间的推移将 对我们愈加不利,拖延下去别人将会把我们的容忍误读为默许。因此,采取有效的手段——武力收复南沙已该摆 上议事日程。

鉴 于涉案国家对我国利益的侵害程度不同,其所处环境和国际地位不同,对我方的军事行动可能做出的反应不同,因此应区别对待,全力处 理好主要矛盾,带动次要矛盾的解决。毫无疑问,我们的主要打击目标就是越南,我们有足够的理由打击越南,越南也有充分的条件成为收复南沙之战的祭品。

1.越南侵占的岛礁最多,危害最大,且态度蛮横,影响恶劣。率先收复越南盘踞的岛礁,就能收复被占岛礁的绝大部分,便可基本掌控全局,以成功驱逐越军的实例威慑其它国家,迫其自行撤走。

2.过去越南一直承认中国拥有西沙、南沙主权,其官员讲话、军用地图、地理教材都是佐证,直到实现统一后才一反常态,对西沙和南沙提出领土要求。其背信弃义、前后矛盾的行径丧失了基本道义,使我军师出有名,据理收复失地。

3.越南拥有东南亚最强军力,而且正在加速发展海空军,企图与我对抗。我军如能借南沙之战摧毁其已具雏形的海空军力,既能使其他国家望风披靡、不战而退,又能解除使越南日益坐大、养虎遗患的隐忧。

4.中越反目已久,曾发生过陆战海战,再次爆发军事冲突已在世界意料之中,各国早已习以为常,反应也会相对较轻。反之,如先打击菲律宾等国则会平添一个交战国,国际反应肯定较为强烈。

5.相关各国虽同属东盟,但越南与其他国家社会制度、意识形态不同,他国又曾在越战中支持美国,其间自有感情隔阂。我国收复南沙必遭东盟反对,但集中打击越南的副作用就会较小,因为越南曾经企图建立地区性霸权的往事仍使其邻国怀有戒心,消弱越南军力对东盟各国也有好处。

6.近期国际形势对解决南沙问题有利。中美、中俄关系均处于最好时期,不致因此引起大国之间的军事对抗。美军深陷阿富汗、伊拉克战场,还要准备应付可能与伊朗发生的战争,无暇顾及南沙战事。而且日韩岛屿纠纷、柬泰寺庙争端都会分散国际社会视线。

7.南沙群岛对中国具有不可或缺的战略地位。在中东到远东的石油动脉上,马六甲海峡固然扼守咽喉要道,南沙群岛何尝不是位居战略要冲,据有南沙便可威慑马六甲,掩护石油通道。南沙是中国必有之地,为此应不惜一战。

8. 以战代练,以实战来检验并提高我军实力。台海形势发展可确保两岸近期不会发生战事,正宜借此空隙彻底解决南海问题,在实战中考 察我海空军的缺陷和差距,及时抓紧弥补提高,使我海空军尽快发展成为具有现代战争实战经验的新型军事力量,以备战台海战事或其他可能出现的挑战。越南海空 军不算强也不算弱,正适合我军实战练兵。

9.借机建立起两岸军队的协同合作。台海两岸分歧多多,唯独在南沙问题上立场一致,虽然不大可能邀到台军一起参战,但在战前战后进行些物资补给、装备维修、人员救治、飞机舰船因战事需要紧急降落停靠等等活动,无疑会对将来的国家统一、军队统一起到推动作用。

10.越南贪得无厌、见利忘义,态度又极其蛮横无礼,绝无通过谈判放弃其抢占岛屿的可能,不打不足以收复国土海疆。既然南沙之战不可避免,晚打就不如早打,被动应付就不如主动出击。
还有很多理由,不再一一列举。

虽 说我军收拾越南不在话下,但是收复南沙毕竟不是小事,越南海空军也正在逐步现代化,并非易与之辈,所以决不可轻敌盲动,必须做好 充分准备,不打则已,打则速胜。收复南沙不是看能否成功,而要看胜得是否彻底,付出的代价是否必要,遭受的损失是否最小,最终结果是否最佳。因此有必要政 治、军事、经济、外交四箭齐发,打出一套漂亮的组合拳。

军事方面,可借越南侵占新岛礁、扣押我国渔船渔民等事件为导火 索,做出强烈反应,宣布我国领土领海不容侵犯,勒令越方限期退出所有 侵占岛礁,迅速在南海完成军事部署,如越军置之不理就强行驱逐,敢于反抗者坚决消灭,凡来增援的越舰越机予以击沉击落。越军已装备一定数量的俄制先进战 机、舰艇和导弹,我军应以海空潜全面封锁其海空军基地,二炮部队应做好覆盖其所有战略要点的准备,空军和海航应做好在预警机、加油机支援下长途奔袭其南部 基地的预案,地面部队要随时应对越军在边境地区的偷袭骚扰,必要时实施反击摧毁其北部海空军基地。总之,要由陆海空潜导编织成立体战场,把打击越南当作解 放台湾的预演,一旦事态扩大就彻底摧毁越南海空军力量。

政治方面,彻底揭露越南等国强占我国领土领海的事实,重申我国坚 持和平崛起的既定方针,但是和平决不意味着可以容忍对我国国家利益 的侵害。尽管发生了我们不愿看到的军事冲突,中国依然希望有关各方坐下来进行和平谈判,及早结束战争。假如越南等国在我强大的军事压力下被迫屈服,则我国 实现不战而屈人之兵,必将大大扩大我国的国际发言权。

外交方面,一旦战事发生,世界上必然批评、抗议声四起,我们要尽力 获得美、俄、欧盟的理解,争取使其置身事外。最重要的外交活动应 针对东盟各国,尽量平息他们的愤怒和恐惧,使他们相信中国非常重视与东盟的关系,绝不会损害除越南之外的东盟国家的切身利益,将他们的反应程度降到最低。

经 济方面,为了和平生存,以色列可以“用土地换和平”;为了和平发展,我们也可以“用金钱换土地”。对南沙群岛,应实行“主权归 我,共同开发,和平协商,利益均沾”的方针,在南沙群岛靠近东盟各国的边缘地带划出若干共同开发区,以我国为主,分别与菲、马、印尼、文莱组成合资开发企 业,让对方拥有分享利润的权利。这些国家强占岛礁的目的就是获取石油利润,让他们得到他们想要的钱,就更易于同意我国拥有主权。如果越南愿意接受这种模 式,不妨也分他一杯羹。

企图以和平方式解决南沙争议,最终结果必然是南沙群岛被人瓜分。众多岛礁被强占是由于当初我军实 力不足,能力具备了就不要再犹豫不 决。动用武力肯定会引来反对声浪,当年英国力夺马岛也曾谴责声一片,但是马岛在手别人又能奈何英国?越南愿当出头鸟就打他个措手不及,杀越寇为南沙之战祭 旗!

[中华兵器大全 中国武器大全 CNWEAPON.COM]



Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”.Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền.Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney..giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ . Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.

Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn” http://www.cnweapon.com/html/news/2010-01/news14304.html
http://www.facebook.com/notes/du-ha-kim-nguyen/t%E1%BB%95-qu%E1%BB%91c-l%C3%A2m-nguy-/10151000574589947 

Liên Xô Vào Thời Kỳ Khrushchev (1956-62)

par Nguyên Hưng, dimanche 29 juillet 2012, 20:27 ·
Sau Thế Chiến Thứ Hai, trong khi các nước thuộc phía tây của châu Âu dần dần phục hổi được nền kinh tế, giành được độc lập về chính trị khi ảnh hưởng của người Mỹ tại châu Âu giảm bớt thì các nước Đông Âu lại theo một con đường khác. Vào cuối Thế Chiến, Liên Xô đã xiết chặt việc kiểm soát các nước được giải phóng tại miền Đông Âu, không cho phép họ tự do chọn lựa chính thể, cách quản trị kinh tế cũng như các cách phát triển khác. Vì vậy sự phục hồi kinh tế của các nước Đông Âu này đã tiến triển theo đường hướng do Liên Xô vạch ra và các cách phát triển kinh tế và chính trị của người dân Đông Âu tùy thuộc vào các thay đổi bên trong của Liên Xô. Cho nên, muốn hiểu rõ các thành quả và thất bại của người dân Đông Âu, cần phải biết rõ các biến chuyển nội bộ của Liên Bang Xô Viết.


Khrushchev


1. Các năm cuối của Stalin 


Thế Chiến Thứ Hai được người dân Nga coi là cuộc chiến tranh bảo vệ tố quốc trước kẻ xâm lăng là quân Đức Quốc Xã. Tinh thần quốc gia của dân tộc Nga đã được đề cao và người dân Nga đã quên đi các khủng bố tàn bạo do chế độ độc tài toàn trị, tức là chế độ Cộng Sản, bởi vì người dân đã cảm thấy dễ thở hơn trong thời kỳ chiến tranh này. Đã có sự đoàn kết hiếm có giữa dân chúng và các kẻ cai trị là tầng lớp đảng viên. Một nhà khoa học người Nga gốc Do Thái, khi di cư sang xứ Israel vào năm 1972, đã cho một phóng viên người Mỹ biết rằng Thế Chiến Thứ Hai là thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử của Liên Xô bởi vì vào thời kỳ này: người dân Nga cảm thấy gần gũi với chính quyền hơn bất kỳ thời kỳ nào khác, cuộc chiến tranh đã là của chúng tôi. Vào năm 1945, đa số dân chúng Xô Viết hy vọng rằng sau chiến tranh, chính quyền Cộng Sản sẽ cho họ được tự do hơn, được hưởng dân chủ nhiều hơn. Nhưng các hy vọng này đã trở thành các vô vọng.
Trước khi Thế Chiến tranh chấm dứt, Stalin đã hướng đất nước Nga trở về nền độc tài toàn trị. Từ đầu năm 1944, các đảng viên hàng đầu của đảng Cộng Sản đã nhận được một khẩu hiệu mới cần phải phổ biến: Khi cuộc chiến tranh chống chế độ Phát Xít chấm dứt, cuộc chiến tranh chống Chủ Nghĩa Tư Bản bắt đầu và Stalin đã từng nói rằng cuộc chiến sau này không tránh khỏi khi mà chế độ Tư Bản còn tồn tại. Một chế độ độc tài toàn trị không thể sống còn nếu không có kẻ thù,  chế độ Tư Bản là một kẻ thù của Liên Xô và tới khi cuộc Chiến Tranh Lạnh dần dần ló dạng thì sự đe dọa của Stalin đã trở thành sự thực.

Một mục đích khác của Stalin sau Thế Chiến là đàn áp hàng triệu người dân Nga sống bên ngoài Liên Bang Xô Viết. Loại này gồm hàng ngàn người là các dân sự sinh sống ở các nước ngoài và theo Liên Xô, cũng có hàng ngàn người khác chống đối Stalin và đã hợp tác với quân Đức, một số lớn khác bị quân Đức Quốc Xã cầm tù. Những người sinh sống bên ngoài Liên Xô đều từ chối trở về quê hương cộng sản. Tại Hội Nghị Yalta, Stalin đã đòi hỏi Roosevelt và Churchill rằng các kẻ phản bội này phải bị trả về cho Xô Viết rồi sau đó, hai nhà lãnh tụ Tây Phương đã giữ lời hứa và các vị chỉ huy quân sự Mỹ và Anh đã từ chối quyền tị nạn chính trí của những nạn nhân kể trên, trong bất cứ trường hợp nào. Vì vậy, gần 2 triệu con người gốc Nga đã bị trao trả về cho Stalin ngoài ý muốn của họ. Sau đó, đa số những nạn nhân này bị bắt bớ, giam cầm và bị gửi đi các trại cải tạo lao động, nơi mà 50 phần trăm tù khổ sai đã bỏ mạng. Nhờ việc thiết lập lại các trại cải tạo này mà một phần sáu các công trình xây dựng mới được thực hiện, phần khác do các người dân bị chế độ cộng sản thanh trừng trong các năm 1945 và 1946.

Trong phạm vi văn hóa và nghệ thuật, các văn nghệ sĩ cũng bị thanh trừng. Các phong trào ý thức hệ đầy bạo lực đã được một tay lãnh tụ tin cẩn của Stalin phát động: Andrei Zhdanov. Zhdanov đã chê trách nhiều nghệ sĩ danh tiếng, kể cả hai nhà soạn nhạc lừng danh Sergei Prokofiev, Dimitri Shostakovich và nhà đạo diễn phim xuất sắc Sergei Eisentein. Nhà thơ nữ nổi tiếng Anna Akhmatova bị kết tội là một con điếm và nữ tu, đã pha trộn ổ điếm với nơi cầu nguyện.         
  
Andrey Aleksandrovich Zhdanov (1896-1948) đã tham gia vào đảng Bolshevik từ năm 1915, leo dần lên các cấp bực trong đảng Cộng Sản Nga rồi sau cuộc Cách Mạng Tháng 10 năm 1917, Zhdanov trở nên một lãnh tụ đảng của thành phố Leningrad, là người được Stalin tin cẩn, là một ủy viên của Bộ Chính Trị từ năm 1939. Khi thành phố này bị quân Đức Quốc Xã bao vây trong các năm 1941-44, Zhdanov đã chỉ huy công việc phòng thủ và khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, Zhdanov đã siết chặt các hoạt động văn hóa, bắt buộc các văn nghệ sĩ Liên Xô phải theo đúng các đường lối chỉ đạo của ý thức hệ cộng sản, phải bài bác tư tưởng tây phương.

Đầu tiên, các chỉ đạo này được áp dụng cho bộ môn văn chương rồi lan qua các ban ngành khác như y học, sinh học, triết học, khoa học… Hai tạp chí văn chương Zvezda và Leningrad bị phê phán nặng nề vì đã phổ biến các công trình văn học của nhà văn hài hước (satirist) Mikhail Zoshchenko và nhà thơ nữ Anna Akhmatova. Các tác phẩm của họ bị coi như không mang màu sắc đảng, mang tính tư sản (bourgeois) và cá nhân. Anna Akhmatova và nhiều nhà văn, nhà thơ khác đã bị loại ra khỏi Hội Nhà Văn Xô Viết. Khi phong trào chống văn hóa tây phương lên cao điểm, các sáng tác văn học cổ điển Nga cũng bị phê bình và chỉ trích là bị ảnh hưởng của J.J. Rousseau, Molière, Lord Byron, Charles Dickens… Các lý thuyết, phát minh và khám phá của phương tây được sửa lại là do các nhà bác học Nga đã tìm kiếm ra. Qua năm 1949, Stalin còn đả kích tàn bạo các người Nga gốc Do Thái, tố cáo họ là thân phương tây và chống Xã Hội Chủ Nghĩa.

Về phạm vi chính trị, từ năm 1945 Stalin đã xác nhận rằng đảng Cộng Sản kiểm soát hoàn toàn chính quyền và ông ta là chủ nhân tuyệt đối của Đảng. Các chương trình kế hoạch 5 năm lại được đưa ra để xây dựng kinh tế. Một lần nữa, kỹ nghệ nặng và kỹ nghệ quân sự được ưu tiên; nông sản, hàng tiêu dùng và nhà ở bị lơ là. Đời sống của người dân Nga lại trở về với mọi khó khăn cũ. Vào năm 1952, tiền lương của người dân thường chỉ mua được thực phẩm từ 25 tới 40 phần trăm ít hơn, so với năm 1928. Lối sống bi đát của thập niên 1930 đã trở lại dù rằng các khủng bố của công an có bớt đi, so với thời kỳ thanh trừng đỏ.

Một mục tiêu khác của Stalin là xuất cảng chế độ Stalin-nít qua các xứ Đông Âu. Từ năm 1948, các đảng Cộng Sản thuộc miền Đông Âu đã thiết lập được các nước độc đảng nhờ vào Hồng Quân và tổ chức Công An chìm của Liên Xô. Tại các quốc gia này, việc nhồi sọ các ý thức hệ Cộng Sản, việc đả phá các tôn giáo và tước bỏ các tự do dân sự (civil liberties) là các sự việc hàng ngày. Kỹ nghệ bị quốc hữu hóa, giới trung lưu bị tước bớt tài sản, đời sống kinh tế phải theo khuôn mẫu do Stalin đặt ra với cách nhấn mạnh vào kỹ nghệ nặng mà không quan tâm tới thiệt hại nhân mạng. Nền nông nghiệp bị tập thể hóa và công tác này được thực hiện nhanh hơn tại 2 xứ Bulgaria và Tiệp Khắc, chậm hơn tại Hungary và Ba Lan. Cuối cùng, các xứ vệ tinh của Liên Xô chỉ được trao đổi hàng hóa với Liên Xô theo các điều kiện không thuận lợi trong khi sự liên lạc với các nước tây phương của các nước Đông Âu này bị hạn chế.

Một xứ duy nhất tránh khỏi cách khai thác, bóc lột kinh tế của Liên Xô, là nước Nam Tư. Lãnh tụ của nước này là Josip Tito (1892-1980) đã công khai tuyệt giao với Stalin vào năm 1948 vì không có quân đội Liên Xô trú đóng trên xứ Nam Tư. Việc quảng bá thành công một chế độ cộng sản độc lập với Liên Xô của Tito đã khiến cho nhiều lãnh tụ cộng sản của Đông Âu bị trục xuất khỏi đảng, bị tố cáo tội phản bội do những lời nhận tội không tin được và do các hành hạ, tra tấn không nương tay.


2. Phong trào bài Stalin và cải cách 


Vào năm 1953, nhà độc tài Stalin già nua phải qua đời. Từ nay, các nước Đông Âu thay đổi chậm chạp, phần lớn do các lãnh tụ kế vị của Stalin đã nhận thức rằng cải tổ là cần thiết. Sự cải tổ này đầu tiên là do những nỗi sợ hãi và căm ghét chế độ khủng bố chính trị của Stalin, đây là cách đe dọa và đàn áp mọi người thuộc cả cấp trên lẫn cấp dưới bằng các cuộc thanh trừng không ngưng nghỉ và các vụ bắt bớ bất công.

Năm 1947, Zhdanov là một lãnh tụ rất thân cận của Stalin, đã giám sát tổ chức Cominform (Communist Information Bureau), đây là cơ quan tuyên truyền quốc tế Xô Viết. Năm sau, Zhdanov qua đời trong vòng bí mật vào ngày 31/8/1948, rồi tiếp theo đó là cuộc thanh trừng 2,000 đảng viên thân tín và bộ hạ của Zhdanov. Cuộc thanh trừng này được gọi là vụ Leningrad (the Leningrad Affair). Vài người còn tin rằng chính Stalin đã nhúng tay vào vụ thanh trừng này bởi vì bệnh đa nghi cố hữu của ông ta và vì ác ý không muốn cho các lãnh tụ trẻ của khu vực Leningrad nổi trội.

Trong lịch sử của Liên Xô vẫn thường xẩy ra nhiều cuộc thanh trừng kẻ nội thù, tức là các đảng viên với nhau. Hiện chưa biết rõ nguyên nhân nào đưa tới cuộc thanh trừng Leningrad kể trên nhưng có lẽ là do sự tranh giành quyền lực giữa hai phe, một phe thuộc Georgi M. Malenkov và Lavrenty P. Beria còn phe kia gồm các bộ hạ trước kia theo lãnh tụ Zhdanov. Những người bị hành quyết trong vụ thanh trừng gồm có: Nikolay A. Voznesensky, ủy viên Bộ Chính Trị và chủ tịch Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước (State Planning Commission); người em của ông này là Aleksandr A. Voznesensky, bộ trưởng Giáo Dục của nước Nga; Alesey A. Kuznetsov, bí thư của Ủy Ban Trung Ương (Central Committee secretary) chịu trách nhiệm về các cơ quan công an; Pyotr S. Popkov, bí thư thứ nhất của tổ chức đảng tại thành phố Leningrad; và Mikhail N. Rodionov, chủ tịch của Hội Đồng Bộ Trưởng Nga (chairman of the Russian S.F.S.R. Council of Ministers). Các vụ khủng bố và thanh trừng như vậy thường xuyên diễn ra tại nhiều nơi trên đất nước Liên Xô đã khiến cho ngay cả trùm mật vụ của Stalin là Lavrenti Beria đã phải công khai nói rằng nên chấp nhận cách nới lỏng kiểm soát. Beria sau đó đã bị bắt và bị xử bắn. Sau thời gian này, quyền hạn của công an chìm đã giảm bớt đi và nhiều trại tù lao động cải tạo đã dần dần bị đóng cửa.

Sự thay đổi còn được coi là cần thiết vì các lý do kinh tế. Nền nông nghiệp ở trong tình trạng tồi tệ, các hoàn cảnh thiếu ăn, thiếu hàng tiêu dùng đã khiến cho người dân không muốn làm việc chăm chỉ, không nghĩ ra sáng kiến. Cuối cùng, chính sách ngoại giao hiếu chiến của Stalin đã làm cho người Mỹ giúp đỡ các nước Tây Âu bằng các liên kết quân sự. Liên Xô vì vậy đã bị cô lập và bao vây.

Vấn đề thay đổi đã được đặt ra tại Liên Xô sau khi Stalin qua đời, nhưng các lãnh tụ cộng sản không đồng ý về mức độ thay đổi. Phe bảo thủ, dẫn đầu do Vyacheslav Molotov, vị bộ trưởng ngoại giao rất lâu dài của Stalin và cũng là người có bộ mặt lạnh như tiền, muốn rằng càng ít thay đổi càng tốt. Phe cải cách do Nikita Khrushchev (1894-1971) biện hộ nhiều cải tiến.

Nikita Sergeyevich Khrushchev sinh ngày 17/4/1894 tại Kalinovka, gần Kursk, thuộc phía tây nam của nước Nga. Cha của Khrushchev là một nông dân nghèo, đôi khi làm nghề thợ mỏ. Nikita Khrushchev cũng là một người thợ mỏ không có học vấn, đã theo đảng Bolshevik vào năm 1918 và lên dần tới địa vị cao, vào năm 1929 đổi về thành phố Moscow và do các thành tích hoạt động, đã được các cấp trên khen ngợi.  Năm 1939, Khrushchev đã ở trong Bộ Chính Trị và trở thành một lãnh tụ mới. Khi quân Đức Quốc Xã xâm lăng và chiếm xứ Ukraine, Khrushchev đã tổ chức các toán quân kháng chiến đồng thời có công làm cho các nông trại, hầm mỏ và nhà máy thép sản xuất được nhiều. Qua năm 1949, Khrushchev trở nên bí thư của Ủy Ban Trung Ương Đảng. Khi Stalin qua đời vào năm 1953, Georgi Malenkov nắm chức thủ tướng. Sáu tháng sau, Khrushchev trở thành Tổng Bí Thư Đảng, tức là người đứng đầu của Đảng Cộng Sản trên toàn đất nước Liên Xô. Năm 1955, Khrushchev gạt Malenkov ra khỏi chức vụ Thủ Tướng, thay bằng người do mình chọn lựa là Thống Chế Nikolay A. Bulganin.

Để củng cố địa vị của mình và của các đảng viên cải cách, Khrushchev đã phát động một cuộc tấn công Stalin, kể ra rất nhiều tội ác của nhà độc tài này, trong phiên họp kín nhân kỳ Đại Hội Đảng Lần Thứ 20 vào tháng 2 năm 1956. Khrushchev đã mô tả các chi tiết theo đó Stalin là con người tàn ác, lạm dụng quyền hành, đã tố cáo ngụy tạo các người cộng sản vô tội là làm gián điệp, hành hạ họ để lấy lời khai và giết chết hàng ngàn đảng viên trung thành. Stalin đã tin tưởng tuyệt đối vào Hitler, làm hỏng cách phòng thủ quốc gia trước khi quân Đức Quốc Xã xâm lăng vào tháng 6/1941, đã làm suy yếu Hồng Quân do thanh trừng các tướng lãnh cao cấp, đã lưu đầy nhiều sắc dân thiểu số và đề cao cá nhân bằng mọi phương pháp có thể tưởng tượng ra được. Trong hàng giờ, cuộc tấn công này nếu ở vào giai đoạn trước, bị coi như bài diễn văn chống Cộng của phe tây phương.

Vào dịp tố cáo các tội ác to lớn của Stalin, Khrushchev còn nhắc tới vụ thanh trừng Leningrad xẩy ra vào năm 1948 và tin rằng các lời tố cáo về âm mưu và phản bội của các bị cáo đều là giả tạo. Khrushchev đã chỉ rõ Lavrenty P. Beria, tay trùm mật vụ, và V.S. Abakumov, bộ trưởng Công An (minister of state security) là phải chịu trách nhiệm tạo dựng nên vụ sát hại Zhdanov và các đảng viên dưới quyền bằng cách chứng thực các lời tố cáo với Stalin. Abakumov bị hành quyết vào tháng 12 năm 1957 vì can dự vào vụ thanh trừng Leningrad kể trên, đồng thời để củng cố vị trí lãnh tụ đảng, Khrushchev đã khai thác hữu hiệu sự nhúng tay của Malenkov vào nhiều tội ác.

Một trong các nhân vật cộng sản hàng đầu bị Khrushchev tố cáo là Beria. Lavrenty Pavlovich Beria (1899-1953) tham gia đảng Cộng Sản năm 1917, lập nhiều công trạng tại hai xứ Azerbaijan và Georgia trước khi được huấn luyện về các hoạt động tình báo và phản tình báo từ năm 1921. Beria là trưởng cơ quan mật vụ Cheka của miền Georgia, qua năm 1932 trở nên lãnh tụ đảng của miền Transcaucasian rồi là người đích thân giám sát các vụ thanh trừng chính trị của Stalin từ năm 1936 tới năm 1938. Cũng vào năm 1938, Beria là phụ tá của Nikolay Yezhov, trùm mật vụ Xô Viết NKVD. Sau khi Yezhov bị bắt và bị hành quyết theo lệnh của Stalin, Beria là người chỉ huy mật vụ từ năm 1938 tới năm 1953, với nhiệm vụ giám sát các vụ thanh trừng, trông coi các trại cải tạo lao động trên toàn Liên Xô. Tháng 2/1941, Beria là Phó Thủ Tướng rồi trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, là ủy viên của Ủy Ban Quốc Phòng Nhà Nước (the State Defense Committee), vào lúc này, Beria vừa phụ trách phần an ninh trong nước lẫn công việc sản xuất các nguyên vật liệu do các tù nhân cải tạo. Năm 1945, Beria được phong Thống Chế (hay Nguyên Soái) của Liên Xô (a marshal). Beria là ủy viên của Ủy Ban Trung Ương Đảng (the Central Committee of the Communist Party) từ năm 1934 và ủy viên Bộ Chính Trị (the Politburo) từ năm 1946. Khi Bộ Chính Trị được tổ chức lại thành Chủ Tịch Đoàn (the Presidium) vào năm 1952, Beria vẫn còn nằm trong cơ cấu tối cao này.

Sau khi Stalin qua đời vào tháng 3/1953, Beria là một trong bốn Phó Thủ Tướng và đứng đầu Bộ Nội Vụ. Trong cuộc tranh giành quyền lực, Beria đã muốn dùng địa vị của trùm mật vụ trong cả nước để kế nghiệp Stalin, làm nhà độc tài. Tuy nhiên, qua tháng 7/1953, tập đoàn chống Beria do Georgi M. Malenkov, Vyacheslav M. Molotov và Nikita S. Khrushchev đã thắng. Beria bị bắt, bị tố cáo công khai là một điệp viên của tư bản (an imperialist agent), đã gây nên nhiều tội ác chống Đảng và chống Nhà Nước. Sau phiên tòa xét xử vào tháng 12/1953, Beria bị hành quyết tức khắc.

Về sau, trong cuộc tranh luận sôi nổi xẩy ra vào tháng 7 năm 1957, Khrushchev còn chỉ vào hai đệ tử trung kiên của Stalin là Molotov và Kaganovich mà nói: Bàn tay của các anh đã nhuốm máu của các lãnh tụ đảng của chúng ta và máu của vô số đồng chí Bolsheviks vô tội (Your hands are stained with the blood of our party leaders and of innumerable innocent Bolsheviks). Molotov và Kaganovich cũng lớn tiếng đáp lại: Bàn tay của anh cũng vậy (So are yours!). Với sự giúp đỡ của Thống Chế Georgy Zhukov, Khrushchev đã loại vĩnh viễn ra khỏi quyền lực Georgi Malenkov, Vyacheslav M. Molotov và vài nhân vật quan trọng khác, họ bị gán cho là các thành phần chống đảng. Vài tháng sau, vào tháng 10/1957, Thống Chế Zhukov cũng bị mất chức bộ trưởng Quốc Phòng rồi kể từ tháng 3/1958, Nikita S. Khrushchev kiêm nhiệm luôn chức Thủ Tướng của Liên Bang Xô Viết.

Bài diễn văn kín của Khrushchev đã được đọc trong các buổi họp đảng trên khắp nước Liên Xô để làm mạnh thêm phong trào cải cách. Phong trào Bài Stalin đã làm lung lay độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản, trong khi đó phong trào cải cách đã chú ý nhiều hơn vào các nhu cầu và các ước muốn của người dân Nga, đã chuyển tài nguyên từ kỹ nghệ nặng và quân sự sang các nông phẩm và hàng tiêu dùng. Cách kiểm soát công nhân theo chế độ Stalin-nít được nới lỏng, tòa án được độc lập hơn trong việc xét xử, nhất là đối với các tội phạm không thuộc chính trị. Nhiều triệu tù nhân chính trị được thả ra khỏi các trại lao động cải tạo của Quần Đảo Ngục Tù Gulag, bầu không khí chính trị trong xứ Liên Xô được tự do hơn đôi phần và lãnh tụ Khrushchev được lòng người dân nhiều hơn.     

Trong thập niên 1960, mức sống của người dân Liên Xô đã được cải tiến dần, vào năm 1970, họ có thể mua được gấp hai lần số thực phẩm, ba lần số quần áo và 12 lần số đồ gia dụng hơn là trong thập niến 1950, dù rằng còn rất thấp so với mức sống của người dân Đông Âu.

Phong trào bài Stalin do Khrushchev khởi xướng, đã tạo nên niềm phấn khởi cho các nhà trí thức và các nhà văn bởi vì những người này đang đói khát nền tự do văn hóa. Nhà thơ lớn Boris Pasternak (1890-1960) đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết dày Bác Sĩ Zhivago vào năm 1956, ông ta là người đã sống sót qua thời kỳ thanh trừng của Stalin nhờ ẩn mình phiên dịch các tác phẩm của Shakespeare. Bác Sĩ Zhivago vừa là một tác phẩm văn chương cỡ lớn, vừa là một điều thách đố mạnh mẽ trước chế độ Cộng Sản bởi vì cuốn truyện này đã kể lại một nhân vật trí thức trước thời kỳ Cách Mạng Tháng 10, đã bài bác bạo lực và sự tàn nhẫn của cuộc Cách Mạng năm 1917 và của những năm do Stalin cai trị và theo như cốt truyện, nhân vật chính Iouri dù cho bị hủy diệt nhưng được coi là chiến thắng do bởi tinh thần nhân đạo và thiên chúa giáo. Nhà thơ Boris Pasternak đã được trao tặng Giải Thưởng Nobel về Văn Chương năm 1958 nhưng đã bị chính Khrushchev ép buộc phải từ chối Giải Thưởng danh tiếng kể trên. Từ nay, nhiều nhà văn, nhà thơ có tài người Nga khác đã can đảm theo gương của Pasternak trong việc biểu lộ đặc tính tự do trong sáng tạo.

Một nhà văn danh tiếng khác là ông Alexander Solzhenitsyn (1918-2008) cũng viết ra tác phẩm Một Ngày trong Cuộc Đời của Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich) vào năm 1962. Cuốn tiểu thuyết này mô tả cuộc sống ảm đạm trong một trại tù cải tạo dưới thời Stalin, đây là kinh nghiệm thực sự của chính tác giả khi bị kết án một cách bất công và phải chịu cảnh hành hạ tàn nhẫn.

Về phương diện ngoại giao, Khrushchev cũng bài Stalin trong các chính sách đối ngoại bằng cách biện luận rằng đối với chế độ tư bản, có thể sống chung hòa bình được và có thể tránh khỏi cuộc chiến tranh toàn cầu. Trong cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên với Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight Eisenhower, Khrushchev đã đồng ý vào năm 1955 về một nước Áo (Austria) trung lập sau khi nước này ở dưới quyền chiếm đóng của các quốc gia Đồng Minh. Đây là cách giảm bớt căng thẳng trong cuộc chiến tranh lạnh và Khrushchev còn tuyên bố rằng có nhiều con đường dẫn tới Xã Hội Chủ nghĩa, tức là hòa dịu với lãnh tụ Josif Tito của nước Nam Tư. Đồng thời, Khrushchev cũng ve vãn các nước thuộc châu Á và châu Phi, hứa hẹn với họ các trợ giúp.

Chủ trương bài Stalin của Khrushchev đã khuyến khích các nước vệ tinh Đông Âu nổi dậy. Do phải chịu đựng quá nhiều đau khổ dưới thời Stalin, các nhà cải cách Cộng Sản và dân chúng Đông Âu đã lợi dụng cơ hội này để sớm tìm kiếm thêm các thứ tự do và nền độc lập quốc gia. Ba Lan là nước dẫn đầu trong cách đòi hỏi dân chủ vào tháng ba năm 1956. Tại nước Ba Lan, giới nông dân không bị bắt buộc tham gia vào các nông trường tập thể và đạo Cơ Đốc (Catholic) còn được phép hoạt động. Các cuộc bạo động phản đối chính quyền tại Ba Lan đã khiến cho nhà cầm quyền cộng sản địa phương phải thả ra khỏi nhà tù hơn 9,000 tù nhân chính trị, kể cả một nhân vật trước kia bị thanh trừng là ông Wladyslaw Gomulka. Ông Gomulka đã bị tống giam vào năm 1951 vì muốn thiết lập nên một chính quyền cộng sản độc lập với Liên Xô. Khi lên nắm quyền hành lần này, ông Gomulka đã khéo léo làm dịu các tư tưởng chống Liên Xô và đạt được nhiều quyền tự trị cho xứ Ba Lan.

Xứ Hungary đã trải qua một cuộc nổi dậy bi thảm. Khởi đầu do các sinh viên và các công nhân, tức là thành phần cách mạng đô thị cổ điển, người dân Budapest đã thiết lập nên một chính quyền cộng sản cải cách mới vào ngày 23 tháng 10 năm 1956, đòi hỏi quân đội Liên Xô phải rút ra khỏi xứ này, đòi hủy bỏ chế độ độc đảng độc tài và hứa hẹn các tự do bầu cử, tự do biểu lộ tư tưởng cũng như nhiều thay đổi xã hội. Điều đáng lo ngại nhất đối với Liên Xô vào thời kỳ đó là chính quyền Hungary mới chủ trương trung lập, từ bỏ liên kết quân sự với Liên Xô. Giống như năm 1849, Liên Xô đã cho quân đội đàn áp tàn bạo cuộc cách mạng dân chủ này.

Vào ngày 4 tháng 11 năm 1956, lực lượng Xô Viết gồm 4,000 chiến xa, đã tấn công và chiếm thành phố Budapest cũng như nhiều thành phố khác. Từ 25,000 tới 50,000 người nổi dậy bị giết cùng với 7,000 quân Xô Viết thiệt mạng. Hơn 200,000 người dân Hungary bỏ chạy ra khỏi xứ trong khi đó hàng ngàn người khác bị bắt, bị hành quyết hay đưa qua các trại tù lao động cải tạo bên trong xứ Liên Xô. Người cộng sản Nga đã thiết lập tại đây một chính quyền mới, thân Liên Xô, dưới quyền lãnh đạo của ông Janos Kadar.

Người dân Hungary đã chống cự quân đội ngoại quốc Liên Xô vì tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp và giúp đỡ theo như lời tuyên truyền, nhưng khi sự việc này không xẩy ra bởi vì Hoa Kỳ không muốn vướng mắc vào một cuộc chiến tranh toàn diện, dân chúng Hungary đành phải khuất phục trước bạo quyền và từ nay, đất nước này lại phải theo đúng các đường lối do Liên Xô vạch ra.            


3. Khrushchev bị hạ bệ


Vào tháng 10 năm 1962, nhà thơ trẻ được nhiều người biết tới là Yevgeny Yevtushenko đã phổ biến trên tờ báo Sự Thật (Pravda) một bài thơ có tên là Các Người Thừa Kế của Stalin (Stalin’s Heirs), công kích các đảng viên bảo thủ Stalin-nít. Bài thơ có tính cách chính trị này đã được sự chấp thuận của chính Khrushchev. Đây là lời phản kháng cuối cùng, bởi vì trong vòng hai năm, Khrushchev bị hạ bệ khi đang đi nghỉ ngơi trên bờ biển Crimea, bởi nhóm đảng viên cao cấp theo Leonid Brezhnev. Phong trào bài Stalin lan rộng đã khiến cho quyền hành độc tài của đảng Cộng Sản bị đe dọa, các chỉ trích có thể tới tầm vóc không thể kiểm soát nổi và đảng Cộng Sản phải siết lại phong trào này khi còn hạn chế được, vì vậy đây là lúc Khrushchev phải ra đi.

Một lý do khác khiến cho Khrushchev bị hạ bệ là chính sách ngoại giao của ông ta. Mặc dù vài thành công tại Ai Cập và Ấn Độ, đường lối của Khrushchev bị coi là không thành công. Vào năm 1958, Khrushchev đã ra lệnh cho các đồng minh phương tây phải rời khỏi Tây Bá Linh trong vòng 6 tháng, sự việc này đã khiến cho phe phương tây đoàn kết lại. Rồi sau đó liên lạc với Trung Cộng suy giảm thảm hại và ông ta còn ra lệnh xây dựng bức tường ngăn cách giữa hai miền Đông và Tây Bá Linh, vi phạm các thỏa ước với các siêu cường khi trước. Khrushchev còn ra lệnh đặt các phi đạn nguyên tử tại xứ cộng sản Cuba khiến cho Tổng Thống Kennedy đã phong tỏa Cuba, khủng hoảng ngoại giao rất căng thẳng khiến cho các hỏa tiễn Liên Xô phải bị tháo gỡ và rút lui, rồi sau biến cố này, uy tín của Khrushchev xuống dốc rất nhanh.

Sau khi Brezhnev lên nắm quyền vào năm 1964, các người Cộng Sản chỉ nhắc tới các ưu điểm của Stalin mà cố quên đi các tội ác to lớn của nhà độc tài này. Họ chỉ ca tụng các thành quả nhanh chóng về kỹ nghệ hóa và các chiến thắng Đức Quốc Xã của thời đại Stalin và nhắc nhở cho dân chúng Nga biết rằng sẽ không có các thay đổi đáng kể. Liên Xô từ nay lại bắt đầu các chương trình lớn lao xây dựng các lực lượng hải quân và không quân để có thể can thiệp vào các nơi xa xôi như Cuba, Afganistan và Việt Nam. Brezhnev đã theo đuổi đường lối thận trọng hơn, tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ và tỏ ra sẵn lòng sống chung hòa bình với khối phương tây.

Các cố gắng cải tiến hệ thống cộng sản Xô Viết của Nikita S. Khrushchev đã gây được nhiều ảnh hưởng đáng kể tới giới trẻ tại Liên Xô, những người này về sau đã phục vụ chính quyền dưới thời của nhà lãnh tụ Mikhail Gorbachev .
 
Phạm Văn Tuấn
http://www.facebook.com/notes/nguy%C3%AAn-h%C6%B0ng/li%C3%AAn-x%C3%B4-v%C3%A0o-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-khrushchev-1956-62/451280311568998 

George Orwell (1903-1950) và Truyện Trại Súc Vật (Phạm Văn Tuấn)

par Nguyên Hưng, lundi 30 juillet 2012, 15:31 ·
1. Các con vật và con người trong Trại Súc Vật

Old Major: là một con heo đực già, được nhiều con vật trong nông trại kính trọng. Con heo này căm hờn chế độ độc đoán của loài người nên dạy cho các con vật khác trong nông trại bài ca Thú Vật của Nước Anh và vận động chúng nổi dậy.

Snowball: một con heo đực trẻ hơn, là một trong các nhà lãnh đạo sáng giá của cuộc nổi dậy. Sau khi trù liệu các chương trình phức tạp xây dựng nhà máy xay lúa, nó bị đàn chó của Heo Napoleon săn đuổi khỏi trại súc vật rồi sau đó, thường là dê tế thần khi nông trại gặp khó khăn.

Napoleon: một con heo đực trẻ khác, nhiều tham vọng, cùng với Heo Snowball lãnh đạo cuộc nổi dậy lật đổ ông Jones. Sau khi thành công, nó dần dần kiểm soát mọi sinh hoạt của nông trại cho đến khi trở thành một nhà độc tài.

Squealer: con heo mập, là phát ngôn viên của Heo Napoleon, có khả năng nhào nặn tư tưởng của các con vật khác bằng cách dùng các lời hùng biện rỗng tuếch, nhưng đầy tính thuyết phục. Nó thường cắt nghĩa tại sao các con heo thường làm trái ngược với các Giáo Điều.     Boxer: con ngựa kéo xe nhiều sức mạnh, rất trung thành và kém thông minh, là con vật tiên tiến trong mọi kế hoạch cần đến sức lao động, sau này khi đãkiệt sức, thì bị bán cho lò sát sinh.

Clover: con ngựa cái thường âm thầm thắc mắc trước các quyết định của Heo Napoleon, đã giúp đỡ Boxer khi con ngựa này ngã quỵ.

Mollie: con ngựa vô dụng, ưa thích bằng khen và đường ngọt hơn là các lý tưởng hay cuộc nổi dậy. Sau này nó bị dụ ra khỏi nông trại vì lời hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp.

Benjamin: con lừa bi quan, hoài nghi trước mọi loại xã hội, thường đưa ra các lời nhận xét ẩn dụ, khiến cho các con vật khác kém hăng hái.

Moses: con quạ thường làm vui các con vật khác bằng câu chuyện mô tả một thiên đường gọi là Núi Kẹo Đường (Sugarcandy Mountain).

Bluebell, Jessie và Pincher: ba con chó này sinh ra 9 con chó nhỏ, về sau lớn lên trở thành các vệ sĩ của Heo Napoleon.
Ông Jones: chủ nhân của nông trại Manor, bị các con vật trục xuất khỏi nông trại. Ông ta đã chết vì không còn hy vọng chiếm lại tài sản cũ.

Ông Whymper: kẻ môi giới giữa Heo Napoleon và các nông trại chung quanh.

Ông Pilkington: chủ trại Foxwood láng giềng, bỏ bê công việc, thường say mê săn bắn và đánh cá, sau này đã bán đất cho Heo Napoleon và ăn nhậu, chúc mừng với con heo này.

Ông Frederick: chủ trại Pinchfield láng giềng, là một nhà buôn mưu mẹo, đã lừa đảo Heo Napoleon khi mua gỗ bằng tiền giả. Sau này ông ta tìm cách tấn công và chiếm đoạt trại súc vật nhưng thất bại.





2. Cốt Truyện (1943)

Vào một đêm trường sau khi ông chủ Jones đã ngủ mê mệt vì say rượu, các thú vật của Nông Trại Manor tụ họp trong nhà chứa cỏ để nghe con heo già Old Major kể về một giấc mộng kỳ lạ. Khởi đầu, bằng một giọng nói rõ ràng và đầy sức mạnh, Heo già Major kể lại sự hiểu biết của mình về bản chất của cuộc đời theo đó trên quãng đời này, các con vật đã phải làm việc cực nhọc, chịu đựng gian khổ, không được ăn no, tới khi không còn sức lao động nữa thì bị làm thịt. Tại sao có sự bất công này? Bởi vì các con vật đã bị làm nô lệ cho loài người và đây là giới sinh vật chỉ tiêu thụ mà không sản xuất. Vì vậy chỉ còn một giải pháp: phải lật đổ loài người. Mọi con vật phải đoàn kết lại vì một mục đích chung: nổi dậy.

Buổi họp bị gián đoạn một thời gian ngắn vì vài con chó chạy đi đuổi chuột, tiếp theo Heo già Major đề nghị bỏ phiếu quyết định loài chuột là đồng chí (comrades), kế tiếp mọi con vật đều tán thành một quyết định khác của Heo già Major như sau: Con người là Kẻ Thù. Các con vật vì vậy cần phải tránh xa các thói quen của con người: không xài nhà ở, giường nằm, quần áo, tiền bạc, mậu dịch, rượu. Và trên hết Tất cả chúng ta đều là Bạn. Không con vật nào được giết một con vật khác. Mọi con vật đều bình dẳng.

Heo già Major đã không thể mô tả hết giấc mộng tốt đẹp của nó cho các con vật khác nghe, đây là giấc mộng về một trái đất không còn loài người, và nó cũng dạy cho các con vật kia hát bài ca Các Thú Vật của Nước Anh mà nó học được trong giấc mộng. Nhờ hát đi hát lại bài ca cách mạng này, các con vật đều trở nên cuồng nhiệt.

Không lâu sau đó, Heo già Major qua đời nhưng các con vật còn sống khác đều cần phải hiểu rõ nền Triết Học Súc Vật Chủ Nghĩa (Animalism), đều phải nổi dậy chống lại ông chủ Jones. Công tác giảng dạy và tổ chức quần chúng được giao phó cho các con heo bởi vì loài heo được coi là những con vật tinh khôn, khéo léo. Trong số các con vật này, có hai con tài giỏi nhất là Heo Snowball và Heo Napoleon. Ngoài ra còn có Heo Squealer, một kẻ ăn nói xuất sắc.

Ngày tháng trôi dần qua, ông chủ trại Jones càng uống nhiều rượu mạnh và càng trễ nải việc chăm sóc nông trại. Rồi vào một buổi chiều kia, khi ông Jones quên cho súc vật ăn uống sau một ngày dài, các con vật phá cửa, xông vào máng ăn và giành ăn uống. Ông Jones và các người làm công bèn dùng roi, gậy, đánh đập các con vật. Các con vật đói ăn này không thể chịu đựng hơn được nữa. Chúng bèn tấn công các kẻ đàn áp. Vừa ngạc nhiên, vừa hoảng sợ, cả chủ lẫn tớ đều bị đuổi khỏi nông trại. Thật là bất ngờ. Cuộc nổi dậy đã thành công. Ông chủ Jones không còn nữa, Nông trại Manor từ nay thuộc về các súc vật.

Niềm vui của tất cả súc vật thật là vô kể, chúng là chủ nhân và sẽ làm việc hòa thuận với nhau suốt đời. Chúng rất phấn khởi khi các con heo dạy chúng biết đọc và biết viết. Bảng hiệu Nông Trại Manor nay được đổi thành Trại Súc Vật (Animal Farm), đồng thời trên vách tường của vựa lúa, Bẩy Giáo Điều của Chủ Nghĩa Súc Vật được viết rõ như sau:

            1- Ai đi hai chân đều là kẻ thù. 
            2- Ai đi bốn chân hay có cánh đều là bạn.
            3- Không con vật nào được phép mặc quần áo. 
            4- Không con vật nào được phép ngủ trên giường. 
            5- Không con vật nào được phép uống rượu. 
            6- Không con vật nào được phép giết một con vật khác. 
            7- Mọi con vật đều bình đẳng. 

Dù cho Bẩy Giáo Điều này được dạy cho các con vật học thuộc lòng, nhưng cũng có vài con vật quá ngu dốt, học không thuộc bài! Vì thế Heo Snowball đã tóm tắt tất cả các Giáo Điều thành một câu châm ngôn dễ nhớ: Bốn chân Tốt, hai chân Xấu.

Sau cuộc Nổi Dậy thành công, mọi con vật đều phải ra đồng làm việc và vào ngày Chủ Nhật, chúng tụ họp trong vựa lúa để thảo luận về các đường lối, chính sách của nông trại mới. Các con heo trở nên các kẻ giám sát vì được coi là thông minh nhất. Công tác cần phải làm ngay là vắt sữa bò và các con heo lo công việc này. Một con vật nêu thắc mắc là sẽ phải làm gì với lượng sữa này thì Heo Napoleon nói lớn: Xin đồng chí đừng quan tâm tới sữa bò. Công tác chính là phải lo hoàn thành vụ thu hoạch. Khi các con vật từ cánh đồng trở về thì lượng sữa bò đã biến mất. Thực ra Heo Napoleon đã ăn cắp lượng sữa này cùng một số trái táo, giành cho chính nó và các con heo khác. Heo Napoleon đã cắt nghĩa rằng sữa tươi tuyệt đối cần thiết cho loại lao động trí óc mà loài heo đang thi hành bởi vì nếu không có loài heo suy tính, ông Jones sẽ trở lại nông trại và chẳng con vật nào mong muốn điều này. Ngoài ra, nó còn dùng Heo Squealer, một con heo có khả năng thuyết phục các con vật khác tin rằng loài heo luôn luôn sống đạo đức và bao giờ cũng quyết định đúng đắn, chí công vô tư. Kể từ nay mọi con vật đều phấn khởi, hoàn thành mọi công tác trong thời gian kỷ lục, xuất sắc nhất làm công việc nặng nhọc là con ngựa Boxer.

Vào mùa thu năm đó, ông Jones và các gia nhân cố gắng tìm cách chiếm lại nông trại nhưng nhờ sự khôn khéo và lòng can đảm của Heo Snowball, nhờ các chiến thuật của con heo này mà các con vật đã chiến thắng ông Jones sau một trận đánh được gọi là Trận Chiến tại Chuồng Bò (The Battle of the Cowshed). Mùa đông tới. Mollie là một con ngựa vô dụng, chỉ quan tâm tới bằng khen và đường ngọt, đã bị một người lạ dụ ra khỏi nông trại. Rồi ngày tháng qua, giữa Heo Snowball và Heo Napoleon đã xẩy ra các bất đồng ý kiến. Heo Snowball nói cần phải khiến cho các con vật khác nổi dậy tại các nông trại khác, còn Heo Napoleon cho rằng chúng phải tự kiếm ra súng đạn. Khi Heo Snowball bắt đầu phác thảo ra chương trình xây dựng một cối xay gió để sản xuất điện năng và nhờ vậy cung cấp cho súc vật thêm thời gian nhàn rỗi, thì Heo Napoleon lại cho rằng kế hoạch này vô ích, chỉ khiến cho các con vật mất đi thời gian cần thiết để sản xuất thực phẩm.

Vào một ngày Chủ Nhật, khi các con heo tập trung mọi con vật lại để bỏ phiếu về cối xay gió, khi Heo Snowball hùng hồn diễn thuyết về một loại điện tiết kiệm sức lao động sẽ được sản xuất ra, thì Heo Napoleon ra một hiệu lệnh, 9 con chó hung dữ do Heo Napoleon nuôi dưỡng từ trước, đã xông ra, tấn công Heo Snowball và đuổi con heo này chạy thục mạng, vĩnh viễn bị loại ra khỏi nông trại. Vây quanh là bầy chó hung dữ, Heo Napoleon tuyên bố rằng từ nay, không duy trì các buổi thảo luận mất thời giờ nữa, một ủy ban đặc biệt của loài heo do nó làm chủ tịch, sẽ ra lệnh mỗi ngày. Bốn con heo trẻ lên tiếng phản đối nhưng tiếng gầm gừ của bầy chó hung dữ khiến cho bốn con heo kia phải im lặng, đồng thời bầy cừu cũng đồng thanh và liên tục kêu be be câu châm ngôn Bốn chân Tốt, hai chân Xấu, ngăn cản cuộc tranh luận.

Sau đó vài ngày, Heo Napoleon lại tuyên bố rằng Heo Snowball đã ăn cắp ý tưởng của nó về việc xây dựng cối xay gió, rằng cối xay gió này sẽ phải được thực hiện, rằng công trình này do mọi con vật hy sinh. Công việc xây dựng được tiến hành. Ngựa Boxer to, khỏe, đã tỏ ra có giá trị nhất trong công tác này. Nhưng rồi một trận bão đã làm sụp đổ cối xay gió dang dở. Heo Napoleon đã đổ tội phá hoại cho Heo Snowball và ra lệnh làm lại công trình. Sau đó, Heo Napoleon đã mướn một kẻ trung gian để mua bán với các nông trại láng giềng. Việc làm này trái với các Giáo Điều của Chủ Nghĩa Súc Vật.

Một hôm, Heo Napoleon ra lệnh tất cả con vật phải tập họp trên sân rộng rồi sau đó, các con chó cắn tai bốn con heo nhỏ, lôi chúng ra trước mặt Heo Napoleon. Các con heo nhỏ này nhận tội đã âm mưu với Heo Snowball để phá hoại cối xay gió và rồi giao nạp nông trại cho con người. Sau khi thú tội, bốn con heo nhỏ đã bị các con chó cắn cổ chết. Điều này cũng xẩy ra với ba con gà mái, một con ngỗng v.v… Các vụ thú tội tăng dần, đồng thời cũng chất cao đống xác thú vật. Sau các lần hành quyết này, các con vật khác đều khiếp đảm, rón rén lủi đi.

Cũng có vài con vật còn nhớ rằng những vụ tàn sát này vi phạm Giáo Điều Thứ Sáu, nhưng khi tới vựa lúa, chúng đã thấy ghi trên đó câu: Không con vật nào được phép giết một con vật khác mà không có lý do. Rồi tiếp theo, nhiều con vật đã bị hành quyết vì âm mưu ám hại Heo Napoleon. Kể từ nay, con heo lãnh tụ này luôn luôn có bầy chó hung dữ bao quanh, lại được truy tặng nhiều danh dự, chẳng hạn một bài thơ ca ngợi tài năng của Heo Napoleon được viết trên vách tường của vựa lúa.

Lòng tham lam quyền lực đã khiến cho Heo Napoleon trở nên một nhà độc tài, nó cùng với các con heo khác dọn vào trong nhà của nông trại, nơi này chúng bắt đầu ngủ trên giường. Heo Squealer nói rằng điều này tuyệt đối cần thiết. Như vậy việc làm này có đi ngược với Giáo Điều Thứ Bốn không? Khi các con vật kiểm soát lại các Giáo Điều đã được viết rõ bằng sơn, thì thấy ghi rằng: Không con vật nào được phép ngủ trên giường có trải khăn. 

Việc xây dựng cối xay gió cần tới nhiều vật liệu, nên thực phẩm phải bán đi. Các con vật đều nhận lượng đồ ăn bị cắt giảm, trong khi các con heo lại mập hơn. Vào tháng 8, cối xay gió được hoàn thành và Heo Napoleon đã bán cho ông Frederick một đống gỗ nhưng ông này đã trả lại bằng một đống tiền giả. Sau đó ông Frederick và các người thuộc phe của ông ta đã tấn công Trại Súc Vật, đặt chất nổ phá cối xay gió. Sau trận đánh ác liệt, các con vật đã đẩy lui được các kẻ xâm lăng dù cho một số bị chết, hầu hết bị thương. Các con heo đã ăn mừng chiến thắng bằng một bữa tiệc rượu. Do nhiều con heo nghiện rượu, Giáo Điều Thứ Năm được sửa là Không một con vật nào được uống rượu tới quá độ. 

Thời gian vẫn trôi dần qua, khẩu phần giành cho các con vật bị bớt đi ngoại trừ phần ăn của loài heo và loài chó bởi vì hai loài này cần bồi dưỡng nhiều hơn. Ngoài cối xay gió, Trại Súc Vật cần phải xây dựng một trường học để dạy dỗ lớp heo trẻ. Con ngựa Boxer to lớn vẫn làm việc không than mệt, dù cho nó mỗi ngày một già hơn. Nó muốn xây xong một dãy nhà trước khi nghỉ hưu.

Một hôm khi đang kéo một xe chở nặng, ngựa Boxer ngã quỵ xuống. Heo Squealer công bố rằng đồng chí Napoleon đang dàn xếp đặc biệt để ngựa Boxer được điều trị trong một bệnh viện thú y gần đó. Nhưng khi chiếc xe tải tới nông trại để chở con bệnh đi, thì anh bạn lừa Benjamin đã đọc được giòng chữ viết bên cạnh xe: người ta mang Boxer tới lò sát sinh! Rồi chiếc xe tải khuất bóng nơi xa. Tới lúc này, không còn cách cứu vãn! Ba ngày sau, Heo Squealer cho vẽ một bức tranh mô tả anh ngựa Boxer qua đời một cách yên lành trong bệnh viện! Tất cả con vật khác đều tin tưởng điều này. Để đề cao danh dự của Ngựa Boxer, các con heo tổ chức yến tiệc, chúng ca hát với giọng khàn khàn suốt đêm bởi vì nhờ một món tiền nào đó, loài heo đã mua thêm được một thùng rượu uýt-ki.

Các năm trôi qua. Trại Súc Vật được mở mang rộng thêm do Heo Napoleon đã mua được hai cánh đồng lân cận của ông Pilkington. Các con vật đã xây thêm được vài tòa nhà, lắp thêm máy móc nhưng chúng vẫn phải làm việc rất cực nhọc, vẫn thiếu ăn hơn trước do số chó và số heo gia tăng. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nông trại là sở hữu của hai loài súc vật này.

Một hôm, Heo Squealer lùa các con cừu qua một khu riêng trong một tuần lễ, lúc trở về các con vật này nhìn thấy những cảnh vừa ngạc nhiên, vừa đáng sợ: một con heo đi thẳng người bằng hai chân sau! Vâng, đây chính là Heo Squealer, rồi các con heo khác cũng đi đứng theo cách quý phái này. Cuối cùng Heo Napoleon xuất hiện, đi qua đi lại bằng hai chân sau, bên hông còn đeo một cây roi. Các con vật muốn lên tiếng phản đối, nhưng tất cả loài cừu đều kêu be be câu nói: Bốn chân Tốt, Hai chân Tốt Hơn. Sau đó tất cả loài heo xếp hàng đi vô trong nhà. Như vậy khi đi bằng hai chân, các con heo đã học tập các thói quen của loài người áp chế! Thấy vậy, con ngựa cái Clover bèn nhờ chú lừa Benjamin đọc lại các Giáo Điều, thì trên tường vựa lúa chỉ còn một câu tuyên ngôn: Mọi con vật đều bình đẳng, nhưng vài con vật lại bình đẳng hơn các con khác (All animals are equal, but some animals are more equal than others). Cũng từ nay, cách gọi lẫn nhau bằng đồng chí (comrades) bị loại bỏ, giống như nhiều năm về trước, bài ca Các Thú Vật của Nước Anh đã bị cấm hát. Bảng hiệu của nông trại được viết giống như trước: Nông Trại Manor.

Từ nay, các con heo đều mang roi bên mình, chúng mua máy truyền thanh, mặc quần áo giống như ông Jones. Chúng cũng tiếp đón các chủ trại láng giềng. Vào một đêm tối, tiếng ồn ào và tiếng nhạc bay ra từ căn nhà của nông trại. Mặc dù sợ hãi, các con vật khác cũng tò mò, lại gần cửa sổ và nhìn thấy bên trong cảnh trí nhiều người và nhiều heo ngồi chung quanh cái bàn rộng, cùng nhau đọc diễn văn và uống rượu. Khi một chủ trại chúc mừng sự thành công của Trại Súc Vật thì Heo Napoleon đáp lời, hứa sẽ tăng cường các liên lạc thương mại với các nông trại láng giềng. Về khuya, bữa ăn nhậu này kéo dài thành một đám cãi lộn. Ngó nhìn qua cửa sổ, các con vật bên ngoài không thể phân biệt nổi ai là heo, ai là người.


3. Cuộc đời của Nhà Văn George Orwell 




George Orwell tên thật là Eric Blair, chào đời năm 1903 tại Bengal, nước Ấn Độ. Cha của Eric là nhân viên người Anh phục vụ tại Ấn Độ khi quốc gia này là một phần của Đế Quốc Anh. Vài năm sau khi Eric ra đời, người cha hồi hưu và trở về sống tại nước Anh, vì vậy Eric thuộc giới trung lưu cấp thấp. Vào tuổi lên 8, Eric được gửi đi sống nội trú để chuẩn bị thi vào Trường Eton, dù cho phí tổn ăn ở rất cao, bằng một phần tư lợi tức của gia đình. Sau đó, Eric nhận được học bổng để theo học ngôi trường danh tiếng Eton này. Đây là nơi dành cho con em các gia đình giàu có, tại nơi đây tiền bạc, họ hàng danh giá, tài nghệ thể thao, y phục thời trang… là các thước đo của con người cao sang trong khi Eric lại là kẻ nghèo nhất trong thứ xã hội trưởng giả này. Trong thời kỳ từ tuổi lên 8 tới 18, Eric đã gặp nhiều cảnh bất bình đẳng và áp chế trong trường học và cũng tại nơi này, Eric làm quen với các ý tưởng xã hội và cấp tiến, đặc biệt trong thời gian sau Thế Chiến Thứ Nhất.

Sau khi tốt nghiệp từ Trường Eton với hạng gần chót, do không thể xin học bổng theo học Đại Học Oxford nên chàng thanh niên Eric theo bước chân của cha, đậu kỳ thi công chức của Đế Quốc Anh (the Empire’s Civil Service Examination), qua xứ Miến Điện (Burma) phục vụ trong ngành cảnh sát đế quốc. Cũng tại xứ thuộc địa này mà Eric đã trực tiếp quan sát nhiều cảnh áp chế và bất công, nhận ra sự xa cách và căm thù giữa các tầng lớp xã hội. Vào năm 1937, Eric từ chức rồi trở về sống tại thành phố Paris, nơi đây ông làm nghề dạy học, và có khi phải đi rửa chén trong khách sạn. Mặc dù công việc cực nhọc, Eric không muốn trở về nước Anh sinh sống bằng sự trợ giúp của họ hàng, bởi vì ông cho rằng các năm nghèo khó này là cách trừng phạt giai cấp đàn áp mà ông là một thành viên. Eric bắt đầu cầm bút, viết ra các truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng các sáng tác ban đầu đều bị các nhà xuất bản từ chối.

Năm 1933 Eric Blair cho in cuốn Đi xuống và đi ra tại Paris và London (Down and Out in Paris and London) và để tránh cho gia đình khỏi bị mang tiếng, Eric đã dùng bút hiệu: George Orwell. George là một tên phổ thông của người Anh, Orwell là giòng sông mà tác giả yêu mến. Năm sau, George Orwell phát hành cuốn tiểu thuyết Các Ngày tại Miến Điện (Burmese Days), rồi cuốn truyện Con Gái của Tu Sĩ (Clergyman’s Daughter) xuất bản vào năm 1935, nói về các kinh nghiệm dạy học.

Qua năm 1936, George Orwell được một nhà xuất bản gửi tới một vùng mỏ than của nước Anh để tìm hiểu đời sống của người dân. Cảnh lao động cực khổ trong hầm mỏ tối tăm, ngày này qua tháng khác của dân thợ mỏ, vừa thiếu ăn, vừa thiếu việc làm, đã khiến cho George Orwell viết ra cuốn truyện mô tả nhiều kinh nghiệm đầu tay: Con Đường tới Bến Wigan (The Road to Wigan Pier). Kể từ nay George Orwell là một nhà văn thiên xã hội (Pro-Socialist), nhưng thường chỉ trích cay đắng các nhà xã hội người Anh bởi vì ông muốn nói lên sự thật không đẹp.          

Vào thời kỳ này đang phát triển các chế độ phát xít và độc tài: nước Ý có Mussolini nắm chính quyền, nước Đức nằm trong tay Hitler. Tại Tây Ban Nha, một chính phủ xã hội mới ra đời, hứa hẹn cải tổ ruộng đất, cải cách bầu cử và phân cách nhà thờ với chính quyền. Năm 1937, do lòng mong muốn đấu tranh vì công bằng xã hội, George Orwell tình nguyện tham gia vào Nhóm Cộng Hòa trong cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha chống lại phe đối nghịch của Tướng Franco được Đức Quốc Xã yểm trợ. Các kinh nghiệm thực tế trong cuộc nội chiến này rất quan trong đối với nhà văn. Tại Barcelona, George Orwell đã tìm thấy một bầu không khí vui vẻ, tương kính giữa các đồng chí, mọi người đối xử với nhau một cách công bằng. Ông tin tưởng vào sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, các chiến hữu đấu tranh cho dân chủ, cho tự do, đã bị các thành phần Cộng Sản áp đảo, bắt giam, đem ra bắn bỏ. Các người Cộng Sản không đồng ý với quan điểm của nhóm dân quân mà George Orwell tham gia. Những người sau này bị nghi ngờ phản bội con đường Cộng Sản. Rất may, George Orwell không bị các người Cộng Sản bắt giam mà bị thương ngoài mặt trận rồi được chở về nước Anh để điều trị.

Khi trở lại nước Anh, George Orwell đã tường thuật những điều mắt thấy tai nghe, nhưng không ai tin. Ông đã nhận thấy các lý tưởng xã hội bị đàn áp không phải do cánh Hữu, mà do chính cánh Tả của các người Cộng Sản, đồng thời ông cũng nhận ra sự bất lực của cánh Tả không Cộng Sản, họ không chấp nhận sự thật. Năm 1939, George Orwell cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Lên Cao (Come Up for Air) và đây là tác phẩm đầu tiên mang lại lợi tức. Cuộc chiến tranh thế giới mà tác giả tiên đoán trong tác phẩm này đang dần dần diễn ra. Geoge Orwell lại tình nguyện tham gia quân đội Anh nhưng bị từ chối vì lý do không đủ sức khỏe. Sau đó, ông làm việc cho Đài Phát Thanh BBC.

Sau khi thôi việc từ đài phát thanh, George Orwell khởi công viết cuốn truyện Trại Súc Vật (The Animal Farm) vào tháng 11 năm 1943. Ông muốn phơi bày các bí ẩn của chế độ Xô Viết. Vào thời kỳ này Liên Xô và Anh Quốc là đồng minh chống lại Quốc Xã Đức. Nhiều người không muốn lắng nghe những điều xấu xa của Liên Xô. Bốn nhà xuất bản đã từ chối in và phát hành tác phẩm Trại Súc Vật. Năm 1946 xuất hiện tác phẩm danh tiếng nhất của George Orwell: 1984 (Nineteen Eighty-Four), trong đó ông mô tả một xã hội tương lai gần.

George Orwell qua đời tại thành phố London vào đầu năm 1950 do sức khỏe suy giảm. Ngoài các tiểu thuyết, hai tuyển tập sau cùng của ông là Bắn Voi, và các bài khảo luận khác (Shooting an Elephant, and Other Essays, 1950), và Các Niềm Vui như thế (Such, Such Were the Joys, 1953).


4. Vài nhận xét về cuốn truyện Trại Súc Vật 

Vào giữa thế kỷ 19, Karl Marx cũng như vài nhà tư tưởng xã hội, đã tố cáo các bất công trong xã hội tư bản công nghiệp. Marx cho rằng Lịch Sử của thế giới là Lịch Sử của các cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, giữa kẻ bị trị và kẻ thống trị. Marx mong muốn chấm dứt cảnh người bóc lột người và ước mơ thiết lập một xã hội không giai cấp trong đó mọi người đều bình đẳng. Cũng theo ý kiến của Marx, muốn thực hiện lý tưởng tốt đẹp này, cần tới một cuộc nổi dậy của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư bản nhờ vậy công nhân sẽ làm chủ các tư liệu sản xuất như cơ xưởng, máy móc v.v..  V.I. Lenin đã dùng tư tưởng của Marx, coi Đảng Cộng Sản là giới lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh.




Tại nước Nga vào năm 1917 đã xẩy ra cuộc cách mạng chống lại chế độ phong kiến của Sa Hoàng. Chính quyền Kerensky ban đầu mang tính cách dân chủ tư sản, đã bị Lenin lật đổ bằng Cuộc Cách Mạng Tháng 10 với tính cách xã hội cấp tiến. Tiếp theo là 4 năm nội chiến đẫm máu trong đó Hồng Quân do Leon Trotsky chỉ huy, đã đánh bại các đạo quân Bạch Vệ trung thành với Sa Hoàng và cộng tác với các đạo quân ngoại quốc.

Sau khi Lenin qua đời vào năm 1924, đã diễn ra cuộc tranh giành quyền lực giữa Trotsky và Stalin. Qua năm sau, nhờ các hành động tàn bạo hơn, Stalin thắng thế và Trotsky bị loại ra khỏi Đảng Cộng Sản rồi bị ám sát chết vào năm 1940. Trong thập niên 1930, Stalin trở thành nhà độc tài, đã dùng Công An, Mật Vụ làm công cụ khủng bố, thi hành các vụ bắt giam tập thể và vô số vụ hành quyết để loại trừ mọi kẻ tình nghi không theo đúng đường lối Stalin-nít. Nạn nhân của chế độ độc tài chuyên chế này gồm hàng trăm ngàn đảng viên Bolshevik trung thành và hàng triệu người dân Nga vô tội.

Chủ đích của George Orwell khi viết ra cuốn truyện Trại Súc Vật là để mô tả thành quả của Cuộc Cách Mạng Cộng Sản năm 1917, đã tạo nên một chính quyền độc tài hơn, đàn áp hơn, tàn sát hơn. Nông trại Manor là hình ảnh của nước Nga thời kỳ trước năm 1917 với các nhân vật tương đương như sau:

Ông Jones tượng trưng cho Sa Hoàng Nicholas II (1868/1918), hoàng đế cuối cùng của nước Nga, một người nhu nhược, không chấp nhận cải cách. Dưới thời Sa Hoàng này, hàng triệu người dân bị đói khổ, đàn áp, giống như các súc vật trong nông trại Manor.

Heo Old Major là nhà tiên tri của cuộc Cách Mạng Súc Vật, là con heo đã gieo vào trong đầu óc các con vật khác tư tưởng nổi dậy. Đây là hình ảnh của Karl Marx, người mơ mộng về một cuộc cách mạng toàn cầu, về một xã hội không giai cấp. Con heo già này còn là hình ảnh của Lenin (1870/1924), một con người không nhân nhượng, đã làm thay đổi nước Nga thành Liên Xô, một quốc gia tổ chức theo lý tưởng Cộng Sản.

Một trong các đồng chí của Lenin là Trotsky (1879/1940), lãnh tụ của Hồng Quân. Hình ảnh của Trotsky là Heo Snowball với chương trình xây dụng cối xay gió, sự kiện này tượng trưng cho tư tưởng của Trotsky muốn biến đổi lý thuyết Marx thành hiện thực. Snowball là con heo khéo léo, nhiều sáng kiến nhưng thiếu khả năng âm mưu, tranh giành quyền lực. Các thất bại trong Trại Súc Vật đều bị đổ lỗi cho Heo Snowball, là kẻ vắng mặt, là dê tế thần.

Heo Napoleon là nhân vật chính trong truyện. Có lẽ tác giả dùng tên riêng này để chỉ Hoàng Đế Napoleon của nước Pháp, một nhà độc tài nắm quyền thống trị sau cuộc cách mạng vì tự do, bình đẳng và tình huynh đệ. Heo Napoleon trong truyện còn tiêu biểu cho Joseph Stalin (1879/1953), một con người không quan tâm tới thảo luận và tư tưởng, chỉ tập trung vào hành động, vào việc giành lấy quyền lực qua các vụ khủng bố và thanh trừng. Heo Napoleon đã dùng các con chó hung dữ khi thi hành các vụ tàn sát giống như Stalin xử dụng cơ quan mật vụ KGB để loại trừ các đối thủ rồi trở nên một nhà độc tài nhiều quyền uy. Các con chó hung dữ này còn là hình ảnh của giới Công An, Mật Vụ của chế độ Cộng Sản.

Heo Squealer là phát ngôn viên của Heo Napoleon, tượng trưng cho loại bộ trưởng tuyên truyền, giống như Dr. Goebbels trong chính quyền Quốc Xã Đức. Heo Squealer luôn luôn đe dọa các con vật trong nông trại về sự trở lại của ông chủ Jones. Nó che dấu sự thật, đã viết lại các Giáo Điều, dùng nhiều mỹ từ trong luận điệu, làm nhiệm vụ mô tả các hành động tốt đẹp của lãnh tụ sao cho có lợi nhất trong công tác tuyên truyền. 

Ngựa Boxer tượng trưng cho giới lao động Nga, làm việc cực nhọc mà không được hưởng thụ các thành quả. Con ngựa ngu dốt này tin tưởng một cách mù quáng vào tài lãnh đạo của lãnh tụ, chấp nhận rằng mọi điều Heo Napoleon nói ra đều là chân lý. 

Khi viết ra cuốn truyện Trại Súc Vật, Geoge Orwell là nhà văn hoàn toàn không tin tưởng vào các đảng phái thuộc cả phe Tả lẫn phe Hữu. Đường lối xã hội cấp tiến của ông có tính cách cá nhân hơn chính trị, ông biện hộ các quyền lợi của cá nhân chống lại các đòi hỏi của các tổ chức, ông tấn công các chế độ chuyên chế tồn tại trong Đế Quốc Anh tại Ấn Độ và Miến Điện, trong nền độc tài phát xít tại Tây Ban Nha, trong chế độ Cộng Sản Xô Viết của Liên Xô và cả sự tàn nhẫn, không tôn trọng cá nhân trong các bệnh viện công của nhiều nước.

Tài năng của George Orwell thể hiện trong cách tạo ra các hoàn cảnh vừa linh động, vừa gây tiếng xấu, tác giả đã dùng hành động của những con vật để chỉ trích, mỉa mai các tật xấu và hành động độc ác của con người, phê phán mọi loại tổ chức mà kết quả thử nghiệm thường dẫn tới các loại quản lý chuyên chế, tới cách lường gạt tàn bạo và tệ hại hơn trước.

Phạm Văn Tuấn
http://www.facebook.com/notes/nguy%C3%AAn-h%C6%B0ng/george-orwell-1903-1950-v%C3%A0-truy%E1%BB%87n-tr%E1%BA%A1i-s%C3%BAc-v%E1%BA%ADt-ph%E1%BA%A1m-v%C4%83n-tu%E1%BA%A5n/451583171538712