Friday, 28 September 2012

Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ - Kỳ 1 (Huỳnh Tâm)

9-2012
“...S thực, Hồ Tập Chương (HCM) đã dâng Ải Nam Quan cho đảng CS Trung Quốc, vào ngày 01/10/1950, ngày quốc khánh CS Trung Quốc...”
 
 


Một nhà kho nhỏ, chứa nhiều kệ sách báo, thứ tự danh mục, tư liệu giá trị, chúng thản nhiên ngủ yên 24 năm (1987‒2011). Bỗng một sớm mai mùa Đông vào dịp Noël 25/12/2011. Những sổ tay, hồi ký báo hiệu đã nằm trên kệ sách quá lâu, nơi vị trí trang trọng với sức nặng 63,3 kg. Chúng muốn chui ra từ trong một thùng xốp, gói bằng lớp nilon nén dày, chống ẩm cao, chịu đựng mọi thời tiết. Mười tám ngàn sáu trăm lẻ hai (18.602) trang hồ sơ, trong sổ tay, hồi ký vừa đứng lên vẫn còn sớ giấy mới, chính những lời nói bí ẩn của những người tình báo Trung Quốc. Chúng nói về thế sự của một đất nước xa xăm, nơi ấy đời sống xã hội lúc nào cũng rối bời không bao giờ người dân được hưởng thanh bình, và không có quyền suy tư cho chính họ.

Cùng lúc được tin, những chủ nhân sổ tay và hồi ký, không còn bao nhiêu người sống tại lục địa Trung Quốc, những tên tuổi tình báo Trung Quốc đã đi vào quá khứ, nhưng tư liệu còn sống mãi mãi bởi nó bí mật chuyển đến một mã số người chỉ huy "Cụm mây". Họ ghi chú tỉ mỉ từng chi tiết nội dung ngày đầu Cộng Sản Đông Dương (Pắc Bó) và CS Bắc Kinh hôn nhau thấm thiết, "Răng hở môi lạnh". Bí mật nào cũng chui ra từ bóng tối của Cát Thuần – Miêu Tuần Hóa (猫驯化), Đào Trinh (领导), HCC (美国郗蹉嗯), ĐBA – Đặng Bình Ánh (当平映), Trung Ương Cục (中央翼), HHN-Hà Hạ Nhân (何夏仁), Lương Quang Liệt (梁光烈), Trương Dũng- Trương Đình Tuyển Dũng (张庭选勇), Phùng Huy – Ư Y Bồng (于伊蓬), Chánh Phủ (政府). Và một số tư liệu riêng thu thập được trên chiến trường biên giới Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam, giáp Vân Nam, Quảng Tây Trung Quốc từ năm 1979-2010, đồng thời những tư liệu nền Đệ nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, sau ngày 30/04/1975. Phơi bày một cục diện đất nước Việt Nam trải qua bóng ma tình báo CS Trung Quốc.

Để nói lên những gì chưa phơi bày ra ánh sáng, và muốn đọc thật lớn những gì trong sổ tay của ĐBA (当平映), thế nhưng mới đọc vài trang giấy đã thấy choáng váng bởi nội dung tình báo của đảng CS Trung Quốc hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam, và đảng CSVN ngày nay đích thực là hình "nhân" của CS Trung Quốc.

Mỗi sổ tay hầu hết ghi chú tất cả mã số hồ sơ, không khác nào rừng mây bao phủ trùng trùng bí mật. Chính cá nhân người tình báo, thú nhận ngày về chiều hay đã chết cũng không ai biết họ đem theo những gì! Tuy nhiên có một qui thức CSTQ buộc người tình báo tự nguyện làm thành lũy bao phủ trong lòng quốc gia khác (VN), riêng vùng cấm địa CS Trung Quốc người tình báo phục vụ cho những cái đầu chứa chất liệu đen lừa dối thiên hạ, CSTQ tự hãnh diện điên rồ dùng mỹ từ "nghĩa vụ CS Quốc Tế", đưa thiên hạ vào thế giới đại đồng lu bù, đến nay CS đã trở thành ảo tưởng.

Đôi lúc đọc được những giòng chữ: Người tình báo khao khát muốn sống bằng tên tuổi thật bình thường, đời sống tự do không còn tiếp nhận mệnh lệnh "vào sinh ra tử", thế nhưng nào ai có biết, người tình báo CS khi về chiều, sinh ra mâu thuẫn. Chính mình, thám thính mình để tránh né địch thủ (CSTQ). Một điều lạ không thể ngờ trong sổ tay của ĐBA (当平映), có viết một đoạn so sánh cùng một thời Tôn Trung Sơn sáng lập phong trào Tam Dân Chủ Nghĩa ở Trung Hoa, CS đang ồn ào ở nước Nga và Trung Hoa, riêng Việt Nam có Phan Châu Trinh với phong trào Duy Tân, mục đích đánh đổ chuyên chế, lập dân quyền tự do: Mùa hè năm 1906 có nhà chí sĩ Phan Châu Trinh về nước Việt Nam, dấn thân vào lòng cõi dân tộc, gieo tư tưởng Duy Tân vào lòng dân, đầu tiên ông gửi một bức thư chữ Hán "Đầu Pháp chính phủ thư" cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ phong kiến thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ-dân nước Việt Nam và sửa đổi chính sách cai trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh.
Sau đó, Phan Châu Trinh đưa ra phương châm hoạt động "Tự Lực Khai Hóa" cùng tư tưởng dân quyền. Phan Châu Trinh cùng hai người bạn thân Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi khắp nơi truyền bá phong trào Duy Tân. Vận động quần chúng qua các khẩu hiệu của phong trào: "Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh". Phương thức hoạt động của phong trào bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay v.v...
Thời gian này, ông viết bài "Tỉnh quốc hồn ca", kêu gọi người dân theo hướng Duy Tân, Dân Chủ, người dân tiếp nhận hưởng ứng, lần lượt lập ra trường học, thư xã, thương hội, hội nghề nghiệp v.v...
Tiếc thương nhà chí sĩ Phan Châu Trinh thừa ý chí nhưng không đủ thời gian truyền bá tư tưởng Duy Tân tiến bộ. Ông qua đời lúc 21 giờ 30 phút, đêm 24 tháng 3 năm 1926, tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn. Hưởng thọ 54 tuổi (1872-1926). Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.


Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Ảnh: internet
Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh để lại cho hậu thế những tác phẩm đáng đọc:
Ðầu Pháp chính phủ thư (1906)
Hợp quần doanh sinh thuyết quốc âm tự (1907)
Tây Hồ thi tập (tập hợp thơ làm trong nhiều năm)
Tuồng Trưng Nữ Vương (soạn chung với Huỳnh Thúc Kháng và Phan thúc Duyên (1910)
Trung Kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký (1911)
Santé thi tập (gồm hơn 200 bài thơ, soạn trong tù tại Pháp (1915)
Thư thất điều (thư vạch 7 tội của vua Khải Định (1922)
Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (7.000 câu thơ lục bát, soạn (1912-1913)
Tỉnh quốc hồn ca I, II (phần I, viết tại Việt Nam (1907), phần II, viết tại Pháp (1922). Đây là thơ hiệu triệu, thức tỉnh đồng bào, tạo dân khí mạnh, đề cao dân quyền)
Bức thư trả lời cho người học trò tên Ðông (1925)
Đông Dương chính trị luận (1925)

Ngoài ra, ông còn có các bài diễn thuyết về Đạo đức và luân lý Đông Tây, Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa, một số thơ (không nằm trong Tây Hồ thi tập) và nhiều câu đối chữ Hán ông làm từ 1902-1912...

Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua đời, Việt Nam rơi vào một khoảng trống rỗng. Đến thế hệ 1940 gặp phải đất nước có bàng tay bí ẩn CS, họ từ đâu đến, gieo rắc quá nhiều uất ẩn, gây chia rẽ trong lòng dân tộc Việt Nam; người dân VN tự mất cơ hội khôn ngoan để phản ứng trước tình thế đất nước đang lột xác ra khỏi đô hộ của người Pháp. Đất nước đang cần người có đủ bản lĩnh, thúc dục phong trào Duy Tân, đánh đổ chuyên chế, lập dân quyền tự do cho Việt Nam, hầu như không có ai! Lại một lần nữa, mọi tần lớp người dân yêu nước tiếp tục thiếp ngũ!
Bỗng năm 1940. Ngài Phạm Công Tắc, báo động đất nước đến hồi lâm nguy, tuyên bố: "Hôm nay đất nước Việt Nam chỉ có một trái đắng đỏ Hồ Chí Minh không trừ khử, mai sau ắt cả nước Việt Nam sẽ bị nhuộm đỏ". Lời báo động chưa bay xa, CS Trung Quốc đã ào ào kéo đến, gieo vào Pắc Bó biên giới Việt Nam một Hồ Tập Chương (HCM) thân thế bí mật.

Càng tìm hiểu vào lãnh vực tình báo CS Trung Quốc, lòng càng xây xẩm, bởi hồ sơ tình báo dày đặc, tối cả vung trời Việt Nam. Lòng bừng nóng tự hỏi: Lý do nào người Việt Nam sợ hải chạy theo ảo ảnh CS Trung Quốc, một cách mù quáng để rồi ngày nay nhuộm đỏ cả giang sơn đất nước Việt Nam!
Đến lúc cần phải giải mã một thứ mây trôi khó đoán định về tình báo CS Trung Quốc đã ngự trị trên đất nước Việt Nam 70 năm qua, cũng phải đến lúc cần suy nghiệm tìm một ít ánh sáng dẫn đến nội dung mã số bí ẩn, hy vọng tìm được mọi chân tướng tình báo cơ sở của CS Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Dù lắm trở ngại hay vất vả cũng khởi hành vào thế giới không thấy bóng người, đôi lúc bước chân đến nơi cánh cửa mã số vừa hé mở, liền bị phản gián CS Trung Quốc (中国共产党反间谍) báo động chuyển qua hướng khác! Thêm một lần nữa, và rất nhiều lần khởi lại hành trình mới, cứ thể một bóng đen đi giữa ban ngày, lây nhây tìm nội dung cần thiết có khả năng giải mã. Tuy có 63,3 kg, trên 18.602 trang hồ sơ, có mã số đã ở trước mặt, thế nhưng mọi tư liệu khó hiểu, nào ai biết nó nói những gì bởi những tờ giấy quá khôn ngoan, cuối cùng được em (A)....hướng dẫn một phương thức giải mã morse thông minh. Cảm ơn em (A).... nhiều và nhiều.

Thì ra, mọi mã số bước ra từ Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc (CPC). Thuộc chỉ đạo 24 Tổng cục tình báo và cơ quan, hoạt động trong mã số ấn định. Tổng cục 16 ấn bản mã số, nơi nghiên cứu kế sách hành động cho từng Cụm mây.


Mã số VN0841. Morse Code Beacon Keyer Electronic Circuit
(Quốc phòng).Nguồn: CPC-HN.1950.




Mã số HN1941S. Music have Morse code (Nhà nước).
Nguồn: CPC-HN.195
0



Mã số HN010232. (01/02/1950). Morse Code Forever (Văn kiện tình báo). Theo tình báo Hoa Nam, vào thời điểm 1987, máy truyền thông hay Radar định vị, thường bị phá sóng, mật mã lọt ra ngoài, cho nên tình báo Hoa Nam vẫn sử dụng Morse. Nguồn: CPC-HN.1950
Theo hồ sơ tình báo Hoa Nam (MSS) mã số HN0841: Đầu mùa Xuân năm 1940, đảng CS Trung Quốc lấy quyềt định bành trướng xuống Việt Nam, cho ra đời Cộng Sản Đông Dương (印度支那共产党 - Ấn độ chi na cộng sản đảng). Đến ngày 08 tháng 02 năm 1941, đảng CSTQ chọn biên giới Việt Nam làm thí điểm. Từ đó Việt Nam gặp phải một luồng mây nghìn nghịt đen, từ Phương Bắc kéo đến địa danh Pắc Bó thuộc bản Bó Bẩm, gần các bản Khuổi Nậm, Nà Kéo, Nà Mạ, Nậm Lìn và Nà Lẹn thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Việt Nam, giáp ranh biên giới khu tự trị dân tộc Choang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Tại cửa ngõ Pắc Bó cho ra luồng khí bẩm lạnh tanh, tràn lan giá buốc thấu xương bản làng biên giới, không bao lâu vào sâu lãnh thổ Việt Nam. Đúng lúc tình thế Việt Nam sôi động chính trị, từng giờ nóng lạnh bất thường. Gió Tây độc chuẩn bị giả từ trăm năm đô hộ Việt Nam, đột biến gió da vàng xuất hiện, Nhật Bổn, Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Gió da vàng CS Trung Quốc có lợi thế hơn, thừa dịp thổi tốc mái nhà Việt Nam.



Một góc bản đồ tỉnh Cao Bằng SGI 1/100.100 năm 1948.
Khu vực hang Pắc Bó kế cận các cột mốc 107, 108…
thời Pháp-Thanh. Ảnh: (HN-MSS).
Bắc Kinh cho Hồ Tập Chương (gốc Hẹ, nguyên quán Đài Loan - xem tài liệu “Hồ Chí Minh sinh bình khảoHoChiMinhSinhBinhKhao của Hồ Tuấn Hùng) thực hiện điệp vụ nhập xác Hồ Chí Minh (chết tại Hương Cảng năm 1932). Mã số HN1941S trong bàng tay phù thủy Bắc Kinh vận dụng hết khả năng hướng dẫn dư luận, đẩy nhịp độ cơ sở CS Pắc Bó thành con chim đầu đàn Đông Dương.

Bắc Kinh đứng trong vách núi, lệnh ban hành kế hoạch, định thời, dựng thế, tạo khí hậu nóng gắt, trút xuống một trận mưa CS trên đầu người dân Việt Nam, vốn không đề phòng hậu quả, tác hại lâu dài của khí độc CS, có người háo hức đến nỗi mơ hồ, uống nước mưa CS hy vọng chữa trị bá bệnh kinh niên nhược tiểu, không ngờ dịch CS ăn vào xương tủy, nó tự hoành hành, phá banh lục phủ, ngũ tạng dân tộc Việt Nam.
 

Hồ Tâp Chương (HCM) bí mật đi qua Ải Nam Quan
đến Quảng Tây, vào ngày 16-01-1950. HCM trùm khăn đứng
thứ hai bên phải hình. Ảnh: (HN-MSS).

 
Một mã số HN011050. Hiện lưu trữ tại Học Viện Quân Sự Tình Báo Bắc Kinh (北京智能军校 – Bắc Kinh chí năng quân hiệu). "Hồ Tập Chương thay mặt đảng CS Đông Dương, tham dự quốc khánh Trung Quốc ngày 01/10/1950. Ông tuyên bố: "Từ ngày có đảng ta, khai hóa được nhược tiểu chư hầu VN, đến với trào lưu nghĩa vụ CS Quốc Tế, nay kính dâng lên đảng tùy nghi sử dụng cơ sở CS Đông Dương. Mao Chủ Tịch muôn năm"!
(之日起,我们党,文明的主要缺陷越南后,国际共产主义运动的进展,这种玻璃上升的基础处理越南共产党,万岁毛主席 - Chi nhật khởi, ngã môn đảng, văn minh đích chủ yếu khuyết hãm Việt Nam hậu, quốc tế cộng sản chủ nghĩa vận động đích tiến triển, giá chủng pha ly thượng thăng đích cơ sở xử lý Việt Nam Cộng Sản Đảng, vạn tuế Mao chủ tịch).


Ải Nam Quan trải qua các thời kỳ nhà Hán đặt tên: Úng Kê Quan,
sau là Kê Lăng Quan, Giới Thủ Quan. Đến thời Gia Tĩnh nhà Minh
đặt tên: Trấn Nam Quan. Ngoài ra, phía Việt Nam đặt tên:
Ải Pha Lũy, trước thế kỷ 12 đã có tên Ải Nam Quan.

Người viết bài này xin trình bày đặc điểm hình thù của Ải Nam Quan bởi có đến nơi tham dự trao trả tù binh chiến tranh biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại địa điểm Ải Quan Trung Hoa (中国通), vào lúc 11 giờ, ngày 01 tháng 9 năm 1987 với tư cách ký giả. Nhân dịp dùng một photo chụp những năm cuối TK19 để chứng minh.

Chúng ta thấy đường lên cửa ải chạy dài từ Việt Nam xuyên qua con đường dốc thẳng đến chính diện cửa ải (nhỏ), nơi cửa ải nhỏ này thuộc về Trung Quốc với tên Ải Quan Trung Hoa (中国通), đã có từ ngàn đời, chính giữa cách khoảng đất trống của 2 ải (vùng phi quân sự), trung tâm một đường chiều dài 100m lót đá, cứ 10m chôn sâu một tảng đá làm mô (chướng ngại vật), theo nguyên tắc cắm móc biên giới từ xưa đến nay vẫn thế, hai ải xây dựng kích thước và kiến trúc như nhau và mỗi quốc gia đặt trạm canh biên phòng.

Lý do hình thù cửa ải bên Việt Nam thay đổi. Vào năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn, Nguyễn Trọng Ðang cho trùng tu xây dựng kiến trúc mái ngói cong theo văn hóa Việt Nam, cũng có ý biểu thị cửa ải nói lên tinh thần dân tộc Việt Nam, và phân biệt hai cửa ải.

Đến ngày 26 tháng 6 năm 1887, Pháp và Nhà Thanh ký Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngày 21 tháng 04 năm 1891 tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới Ải Nam quan.

Định lệ, Pháp-Nhà Thanh căn cứ theo Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc: "Từ nay Trung Quốc có Ải Quan Trung Hoa (中国通). Việt Nam có Ải Quan Việt Nam (谁越南)". Pháp-Nhà Thanh đồng ý xây dụng lại cửa ải, kích thước lớn 100%. Một lần nữa cửa ải thay đổi kiến trúc, Pháp thực hiện trước, xây dựng lại hoàn toàn mới, theo mô hình kiến trúc cũ của Ðốc trấn Lạng-Sơn, Nguyễn Trọng Ðang. Từ đó cửa Ải Quan Việt Nam (谁越南) đồ sộ, tấm vóc hùng vĩ. Nhìn qua cửa Ải Quan Trung Hoa (中国通) nhỏ bé cho đến năm 1950.

Sự thực, Hồ Tập Chương (HCM) đã dâng Ải Nam Quan cho đảng CS Trung Quốc, vào ngày 01/10/1950, ngày quốc khánh CS Trung Quốc, và ông ta tự đổi tên Ải Nam Quan thành Mục Nam Quan, đến năm 1953 Quốc Hội Trung Quốc phê chuẩn thông qua với cái tên mới Mục Nam Quan. Một lần nữa, vào năm 1965 theo yêu cầu của đảng CSTQ đề nghị Hồ Tập Chương đổi tên Mục Nam Quan thành Hữu Nghị Quan. Báo chí CSVN đồng ca bài Hữu Nghị Quan, hướng dẫn dư luận thành công, một mỹ từ Hữu Nghị Quan quả nhiên dối trá được cả một dân tộc. Đến năm 1979, mới thực sự có ba tên, một Ải (Ải Nam Quan, Mục Nam Quan, Hữu Nghị Quan). Ngày nay cửa Ải Quan Trung Hoa (中国通) không còn, và (vùng phi quân sự), trung tâm một đường chiều dài 100m lót đá, cứ 10m chôn sâu một tảng đá làm mô (chướng ngại vật) đã biến mất; để nhường lại đường vận tải vũ khí cung cấp cho CS Đông Dương vào năm 1950.

Thương thay cho Cha-Ông ta xây dựng một dãy giang sơn gấm vóc Việt Nam, quá hoàn bích từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Nay đảng CSVN hai tay liền dâng hiến Ải Nam Quan cho CSTQ. Từ nay dấu chân tiền nhân Việt Nam không còn trong ký ức nhân loại và bản đồ thế giới chính thức xóa sổ Ải Quan Việt Nam (谁越南), người Việt mình, miệng gọi: "Ải Nam Quan" đã quen, nay không còn để gọi!

Thành lập nhà nước CS Pắc Bó

Đảng CS Đông Dương chuyển động, núp sau bóng tối của CSTQ để làm thây ma, CSTQ thừa dịp đẩy mạnh hướng dư luận, quảng cáo một nhân vật tình báo Hồ Tập Chương (HCM) (xem tài liệu “HoChiMinhSinhBinhKhao” của Hồ Tuấn Hùng)(HCM) gốc Hẹ, sinh tại Đài Loan, và đánh bóng, suy tôn lên tầm cở thánh tổ dân tộc VN. Bản thân Hồ Tập Chương thuộc chi bộ đảng CSTQ. Còn nhiều nhân vật tình báo chiến lược khác của Trung Quốc, tạm thời ẩn mình trong lớp áo Trung ương đảng CS Đông Dương. Đến nay chỉ mở được vài gói mã số, khó ai biết rằng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 08 năm 1911 tại Bắc Kinh Trung Quốc (tình báo Hoa Nam MSS), một hồ sơ khác của đảng CS Đông Dương, tạo dựng Võ Nguyên Giáp sinh tại tỉnh Quảng Bình Việt Nam.

1935 Võ Nguyên Giáp (武元甲), Nguyễn Chí Thanh (阮成志) được CS Trung Quốc đào tạo tại Học viện Quân sự Vân Nam (大将,越南国防部部长兼越南人民军总司令).
Đến ngày 08 tháng 02 năm 1941. ĐCSTQ thành lập một chính quyền Đỏ bù nhìn, và bộ máy chiến tranh thu nhỏ, trên 175 Quân cán chính từ Trung Quốc, đổ bộ đến hang Pắc Bó.



Những tên Tần Thủy Hoàng con, tung hoành trong Việt Nam Cộng Sản Đông Dương. Trường Chinh, Hồ Tập Chương (HCM), Cố vấn Đại tướng Trần Canh (陈能). Trung tướng La Quý Ba (三季度), gốc Giang Tây, cố vấn trưởng, Đại sứ Trung Quốc tại Chiến khu Việt Bắc (Pắc Bó) năm 1950. Ảnh: THX.
Tổ chức bộ máy chiến tranh gồm có:

Chủ Tịch: Hồ Tập Chương (HCM) quyền đảng trưởng CS Đông Dương. CSTQ biệt phái Đại tướng Trần Canh (陈能), Tổng Tham mưu Trưởng Quân sự, cố vấn CSĐD.

Tổng Bí Thư: Trường Chinh quyền BT/CSĐD. CSTQ biệt phái Thượng tướng Đặng Dật Phàm (置风扇), cố vấn Đảng Ủy Trung Ương.

Thủ tướng: Phạm Văn Đồng quyền Thủ tướng CSĐD. CSTQ biệt phái Trung tướng La Quý Ba (三季度), làm Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, cố vấn Cán chính, thành lập chính phủ CSĐD.
- Tổng Thanh tra Chính phủ, Cố vấn Trung tướng Từ Văn Cương (从范).
- Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Cố vấn Trung tướng Hàn Lộc Tướng (南禄一般).

Ngoại giao: Hoàng Văn Hoan Đại sứ CSĐD tại Bắc Kinh.

Tòa án Quân sự Trung ương: CSTQ biệt phái Trung tướng Mai Gia Sinh (麦嘉双曲正弦), tham mưu phó, Tổng cục Chính trị, kiêm nhiệm Tòa án Quân sự Trung ương.

Tòa án Nhân dân Tối cao: CSTQ biệt phái chuyên gia Tình báo, Quân báo, Thượng tướng Vương Nghiên Tuyền (美国研究事业), chủ nhiệm Tư pháp, cố vấn tác động quần chúng ( khích động).


Tòa Lao động: CSTQ biệt phái Trung tướng Trương Sinh Hoa (张庭广和市), chủ nhiệm Tòa Lao Động, cố vấn Tư pháp.

Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp (武元甲) quyền Bộ trưởng Quốc phòng CSĐD. CSTQ biệt phái Thượng tướng Vi Quốc Thanh (韦国清) tham mưu trưởng cố vấn Quân sự, kiêm nhiệm đào tạo Tổng Cục Tình báo CSĐD. Thượng tướng Đặng Thanh Hà (当薄哈), chủ nhiện đào tạo Quân cán chính đảng bộ CSĐD. Mở hai trung tâm đào tạo quân sự Nam Ninh và Kaiyuan ở Vân nam, mỗi khoá 6 tháng.

Bộ binh: Trung tướng Vu Hóa Thầm (武安和), tham mưu trưởng quân đoàn, cố vấn các binh chủng. Đại tá Lý Ngọc Tiên (玉田) cố vấn Lục Quân, Đại tá Trần Ngũ Quan (五泉陈) cố vấn Học viện quân sự.

Pháo binh: Trung tướng Đậu Kim Ba (金三豆), tham mưu trưởng pháo binh, cố vấn Quân chủng Phòng không. Trung tá Trương Tường (张长城),


Lục quân: Trung tướng Phương Phương (横幅本地), chủ nhiệm Quân chủng Lục quân. Đại tá Hồ Thiên Thuỷ (何添翠). Đại tá Triệu Thuỵ Lai (万瑞丽),

Báo vụ điện đài: Thiếu tướng Tống Nhược Thạch, (童缺点撒奇) chủ nhiệm báo vụ điện đài, và các thành viện. Đại tá Lưu Chấn Hải (刘珍海), Thiếu tá Đinh Chấn Quang (与拦截器), Thiếu tá Lý Văn Đạt (范逸), Thiếu tá Bành Chi Lan (彭兰).

Quân báo: Trung tướng Lỗ Hiển Dư (显示多余的孔), đặc trách huấn luyện Quân báo, cố vấn Văn phòng các Bộ, dưới quyền có những thành viện: Đại tá Chu Ngọc Đường (储玉平阳), Thượng tá Quý Lai Hỷ (赖海兰),  Thiếu tá Phú Từ Hán Văn (从东汉范),
Công nghiệp Quốc phòng: Trung tướng Trương Quảng Hoa (张庭广和市), văn phòng đoàn quân sự, cố vấn Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Tình báo MSS: Thượng tướng Diên Nguyệt Canh (荣裕), chủ nhiệm tình báo Hoa Nam MSS. Thiếu tướng Vương Chấn Hoa (王稹华), đặc trách huấn luyện Tình báo, và các Cơ quan, đơn vị khác trực thuộc Quốc phòng. Thượng tướng Vương Gia Tường (黄墙), Phó chủ nhiệm cục Tình báo, dưới quyền có những thành viện như: Đại tá Triệu Tồn Hiếu (百万储备), Đại tá Tiết Tảo Ngọc (先進的藻類玉), Đại tá Quách Minh Kiếm (郭台銘搜索), Đại tá Vương Vĩnh Đức (美國榮德), Trung tá Lý Tiên Xuân (黎梯摁軒), Trung tá An Đình Lan (安庭蘭), Trung tá Quách Hữu (郭友).
- Trung tướng Lý Văn Nhất (凡山一) tham mưu trưởng Quân pháp Quân đoàn.
- Trung tướng Chu Hạc Vân (朱鶴範) tham mưu trưởng Quân đoàn Pháo binh.
- Thượng tướng Trương Quảng Hoa (張庭廣和市) cố vấn Học viện quân sự, đặc trách trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn, (trong lãnh thổ Trung Quốc).
- Trung tướng Trương Chí Thiện, (张庭选智添) chủ nhiệm kế  hoạch chiến lược.
- Chuyện viên Lý Hàm Trân (火腿陳) chủ nhiệm viện Hộ lý (vợ của Trung tướng La Quý Ba Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam).
- Chuyện viên Hứa Kỳ Thanh (应许之国) chủ nhiệm binh đoàn Hộ lý (vợ của Thượng tướng Đặng Dật Phàm cố vấn Đảng Ủy Trung Ương, kiêm nhiệm đào tạo Tổng Cục Tình báo CSĐD).


Hậu cần: Trung tướng Vu Bộ Huyết (武血), Tổng cục Hậu cần, chủ nhiệm trưởng Quân nhu, Quân dụng. Thiếu tướng Mã Tây Phu (代碼西方夫人), Tổng cục tài chính, lương thực. Thiếu tướng Lý Học Thư (心理學的信), Quản lý vật tư. Đại tá Dương Đồng Văn (  ), chủ nhiệm cục trưởng Kế toán.

Tư Pháp, Nội vụ: Tượng tướng Nhạc Tinh Chiếu (基本的音樂篩選) chủ nhiệm Nội vụ kiêm nhiệm cục trưởng Công an. Thiếu tướng Châu Dật Chi (歐洲地球) đào tạo Kỹ thuật Công an. Lực lượng biên phòng. Thiếu tướng Hứa Kỳ Thanh (應許之國) vụ viện tình báo Lào, và Campuchia. Thiếu tướng Độc Kim Ba (單金巴) chủ nhiệm Cảnh sát, đặc ủy vụ viện tình báo miền Bắc VN. Thiếu tướng Hoàng Vi (晃六) vụ viện tình báo miền Trung VN. Thiếu tướng Châu Khuê (歐洲) tham mưu vụ Công an, vụ viện tình báo miền Nam VN.

Ngân hàng, Tài chính: Trung tướng Vân Dật (範逸), chủ nhiệm cục trưởng Tài chính. Trung tướng Thiên Hựu (神退休), chủ nhiệm cục trưởng Ngân sách quốc phòng. Trung tướng Thôi Ngô (來武) Viện trợ, kiêm nhiệm Phó ban chính trị đảng. Trung tướng Lý Quế Minh (闕胡志明市), cố vấn Ngân hàng CSĐD. Thiếu tướng Trương Ngọc Phong (張庭選玉海防), chủ nhiệm cục trưởng Kế toán.

Thông tin và Truyền thông: Thiếu tướng Trần Thủ Thành (陳星期四會員), chủ nhiệm tổng cục Báo vụ viên, kiêm phóng sự ảnh Hoa Nam MSS. Thiếu tướng Hà Thiệu Vũ (下阮文紹武), trưởng vụ viên Báo chí, chính ủy. Thiếu tướng Lương Trung Ngọc (陳德良的玉), phát ngôn viên chính phủ, kiêm đào tạo Báo vụ viên. Thiếu tướng Vương Chấn Phu (美國毯子), chủ nhiệm đào tạo truyền thông, kiêm nhiệm Quân bưu. Thiếu tướng Đỗ Kiến Hoa (做建華), chủ nhiệm Bộ Tư lệnh Quân khu, cố vấn các quân đoàn chủ lực.

Văn hóa, Giáo dục, Đào tạo: Thượng tá Lâm Quân Tài (遴驅埯財經), chủ nhiệm trưởng Hoa Văn. Thượng tá Trương Hưng (張庭選紅), chủ nhiệm Tôn giáo. Thượng tá Dương Cẩm Sơn (平陽才可兒子), chủ nhiệm cục trưởng giáo dục Văn hóa. Thượng tá Hoàng Kính Văn (皇家玻璃辦公).


Tướng lãnh Trung Quốc thành viên trung ương lãnh đạo CS Pắc Bó. Ảnh: (HN-MSS).

Quân đoàn: Thượng tướng Vương Thừa Vũ (的蘇阿武 ), Tham mưu trưởng Sư đoàn 308.
Thiếu tướng Lê Quang Đạo (經濟道), chính uỷ Sư đoàn 308. Thượng tá Vương Thạc Tuyên (美國碩士宣言), cố vấn Sư đoàn 308. Trung tá Diêm Thử Khánh (有趣慶), chỉ huy trưởng trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Trung tá Chu Diêu Hoa (週期調控), chỉ huy Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Trung tá Điền Đại Bang (進入大爆炸), chỉ huy Trung đoàn 102, Sư đoàn 308. Thiếu tướng Vương Vĩnh Pháp (美國榮法國), Tham mưu trưởng Sư đoàn 312. Thiếu tướng Tăng Diên Vỹ (增加光圈), chính uỷ Sư đoàn 312. Đại tá Nghiêm Dục Sinh (嚴格教育學生), cố vấn Sư đoàn 312. Trung tá Hầu Hàn Giang (最邗江), chỉ huy trưởng trung đoàn 36, Sư đoàn 312. Trung tá Hàn Lộc Tướng (南祿一般), chỉ huy trưởng trung đoàn 165, Sư đoàn 312. Trung tá Thái Dũng (泰國阮晉勇), chỉ huy trưởng trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Thiếu tướng La Tự Hiền (洛杉磯車展), Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Thiếu tướng Triệu Tích Phong (百萬斯里蘭卡室), chính uỷ Sư đoàn 316. Thượng tá Như Phụng Nhất (由於鳳凰第一), cố vấn Sư đoàn 316. Trung tá Dương Tiến (海洋博士), chỉ huy trưởng trung đoàn 98, Sư đoàn 316. Trung tá Nhiệm Cùng (團一起), chỉ huy trưởng trung đoàn 174, Sư đoàn 316. Trung tá Kiếm Anh (搜索英國), chỉ huy trưởng trung đoàn 176, Sư đoàn 316. Thiếu tướng Phó Hiếu Trung (中國國務院副), Tham mưu trưởng Sư đoàn 304. Thiếu tướng Sư Địch Anh Kiệt (翻譯武文傑), chính uỷ Sư đoàn 304. Đại tá Trương Nãi Chiêm (章嗯愛沾), cố vấn Sư đoàn 304. Trung tá Lưu Sư Tường (保存的相似性), chỉ huy trưởng trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Trung tá Vương Nghị (美國法令), chỉ huy trưởng trung đoàn 57, Sư đoàn 304. Trung tá Tôn Đức Tu (文件太陽), chỉ huy trưởng trung đoàn 66, Sư đoàn 304.
Quân Y: Trung tướng Bác sỹ Lý Kiện Hoa (李建華), Tổng cục trưởng Quân y. Thiếu tướng Lâm Quân Tài (遴驅埯財經), Tổng cục phó Quân y. Thiếu tá Mạnh Đông Thăng (勝強), cố vấn Trợ lý thương binh. Thiếu tá Trần Bình Sơn (鎮平子), quảng trị bệnh xá. Thiếu tá Tập Tùng Anh (東英格蘭), đào tạo y tá.


Các cấp chỉ huy Trung đoàn của quân đội Trung Quốc,
đóng quân tại bản Khuổi Nậm, Nà Kéo, Nà Mạ, và Nậm Lìn
thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ảnh: (HN-MSS).

 
Tất cả 11 trung đoàn bộ binh, còn có toàn bộ Sư đoàn công pháo 351 (45 khẩu pháo 105ly, 20 khẩu pháo 75 ly, 36 khẩu súng cối 120 ly, một số khẩu cao xạ pháo, súng máy cao xạ, 2 trung đoàn công binh).

Quân đội nhân dân giải phóng Trung Quốc vận dụng mọi chủ lực tiến vào Việt Nam gồm Sư đoàn 308, 312, 316, Sư đoàn công pháo 351, trung đoàn 148, Sư đoàn 320, 304. Hầu xây dựng vững mạnh đảng CS Đông Dương, chủ yếu Việt Nam ưu tiên một!

Hậu phương: Dân công chuyển ra tiền tuyến chiếm một tỉ lệ lớn trong nhiệm vụ vận tải cung cấp trên 37.800 tấn lương thực, do Trung Quốc đảm nhiệm, riêng quần chúng dân tộc biện giới Việt Nam và vùng tự trị Choang đóng góp hơn 9.500 tấn. Quả nhiên sự quyết tâm lớn chưa từng có của đảng CSTQ, hậu hỹ cung cấp cho chiến trường Việt Nam.
Bộ máy chiến tranh từ trung ương đến bộ chỉ huy chiến trường chỉ còn vận hành theo lệnh của Mao Trạch Đông.


Trên 175 tướng lãnh, chuyên gia chiến lược, quân sự và chuyên gia thành lập hành chánh từ cấp Trung Ương đến địa phương. Trước khi tuyên bố đảng CS Đông Dương. Mao Trạch Đông cho trừ bị 320.500 quân binh bên kia biên giới Quảng Tây Trung Quốc, trấn giữ hậu phương để Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) tung hoành trong lãnh thổ Việt Nam.

Tháng 8/1950. Khi trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ Andrew Roth. Hồ Tập Chương (HCM) thừa nhận ảnh hưởng của Trung Quốc và phong trào giải phóng Việt nam đang chuyển mình theo mô hình của Trung Quốc.

Bản thân Hồ Tập Chương (HCM) nguyên chuyên viên tình báo Quốc tế, vẫn phải có những cố vấn tình báo nhị trùng bên cạnh, đặc biệt Đại tướng Trần Canh (陈能) một tướng lãnh thứ 23 của đảng CS Trung Quốc, cùng tháp tùng có 45 nhân vật tình báo cao cấp của Hoa Nam MSS, và cấp Thượng tướng. Đảng CSTQ cài sau lưng Hồ Tập Chương những nhân vật trên với cương vị cố vấn quân sự. Buổi sơ khai thành lập đảng CSĐD, CSTQ tranh thủ dựng lên một hang hốc Pắc Bó. Thời điểm này khó ai biết rõ Hồ Chí Minh còn sống hay đã chết, chỉ có Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, mới đủ tư cách xác nhận. Pắc Bó chỉ có Hồ Tập Chương, còn người đứng sau lưng bức màng bí mật là Mao Trạch Đông!

Theo mã số HN010232. Tình báo Trung Quốc còn ghi chú: "Ba tư liệu bí mật về HCM vẫn còn chứa bí ẩn".

1 ‒ ADN của Hồ Chí Minh, giấy khai tử tại Hương Cảnh.
2 ‒ Mục đích đổi tên đảng CS Đông Dương, thành lập đảng Lao Động VN ngày 02/9/1945.
3 ‒ Một "Cụm mây" tình báo, ai sẽ là người thực hiện "trừ khử" Tướng lãnh ngoài mặt trận, khi phản bội đảng CSTQ.

Ai là người công bố hay thực hiệc 3 yếu tố trên, khó ai biết trước vì còn một mã số ẩn, bởi vậy mỗi khi nghe tiếng hắt xì từ Bắc Kinh, tất cả nhân vật nhà nước Pắc Bó phải tuân lệnh, sau đó đổ xuống đầu dân tộc Việt Nam, một gánh phân chứa nhiều độc tố, do đảng CS Đông Dương làm chủ chiến dịch, đảng CSTQ lãnh đạo thành công. CS Đông Dương người học trò tốt, tuân lệnh ngoan ngoãn theo lời chỉ dạy, rập khuôn mẫu thực hiện, chủ yếu phá tiêu tan nguồn sinh lực dân tộc Việt Nam, càng chứng tỏ trung thành với đảng CS Quốc Tế. Đặc biệt nhiệm vụ tình báo Hoa Nam (MSS), cài nhân sự vào các cấp, trải rộng khắp mọi nơi, ngoài ra mỗi năm gửi về Trung Quốc 350 Quân, Cán, Chính đào tại Tình báo và Quân sự v.v...!

Thế hệ 1940 rất nhiểu người đầy nhiệt huyết đã từng lấy quyết định từ chối CS và không kỳ vọng vào Trung Quốc, họ từ giả trước cơn mưa rào chưa bao giờ thấm đất, và không hề xảy ra (cách mạng mùa thu 1945). Đảng CS Đông Dương chỉ nặn ra hình bóng cuộc tổng khởi nghĩa mùa Thu, mà họ cho rằng lịch sử ngày 19 tháng 8 năm 1945. Quả nhiên hình nộm của đảng CS Trung Quốc xuất hiện ngay trong bao tử của đảng CS Đông Dương, người CS xem việc kỹ thuật truyền truyên là một phương tiện đẩy mạnh mùa Thu thành phép lạ, đưa dư luận đến nông thôn ra thành thị, với những người cướp tinh thần 9 năm kháng chiến chống Pháp, chống Nhật hối hả bu vào đống phân CS Đông Dương, không bao lâu cờ đỏ búa liềm xuất hiện, trút xuống và nhuộm đỏ một phần quê hương Việt Nam, biến thành một chư hầu mới, đắc lực cho đảng CS Trung Quốc, chấp nhận làm thân ngoại lai để rồi đem dân tộc Việt Nam vào lò thiêu, nghĩa vụ CS Quốc Tế.

Trước 1940, họ quá ngu ngơ tự rước CS vào Việt Nam, đương nhiên ngày nay phải có trách nhiệm với lịch sử dân tộc Việt Nam, bởi những thế hệ mai sau không thể chấp nhận ăn phải mọi cay đắng, và không thể thấy đất nước mãi mãi điêu linh. Kẻ cố ý đem đến cho Việt Nam một tai nạn CS, khó tha thứ được bởi tội đồ của Tổ Quốc Việt Nam.

Chính những nhà lãnh đạo sát máu của đảng CSVN đã công nhận rước Trung Quốc, thực hiện lừa đào nhân dân Việt Nam. Tạo ra nội vụ chiếc áo "Lụa" của Hồ Tập Chương (HCM) toàn quốc phải trả với giá 9 tấn vàng. Số vàng này đảng Lao Động Việt Nam triều cống cho tướng lãnh Quốc Dâng Đảng.

Tiếp theo một chân sau, đảng CS Trung Quốc. Tòa án Nhân dân Tối cao CS Đông Dương, do Thượng tướng Vương Nghiên Tuyền (), nguyên chỉ huy Tình báo và Quân báo CS Trung Quốc, soạn thảo kế sách 然的 – Nhiên Đích (Ngũ sang định). 1 ‒ Khích động xã hội tranh chấp. 2 ‒ Càn quét loại bỏ tư sản, phát hành phiếu tệ. 3 ‒ Cải Cách Ruộng Đất. 4 ‒ Tập trung lao động. 5 ‒ Chiêu mộ nhập ngũ.

Đích thân Hồ Tập Chương (HCM) tiếp nhận mệnh lệnh thực hiện (Ngũ sang định). Ngoài kế sách còn có chiến dịch, khích động những gia đình "tài phú" âm thầm đóng hụi chết trên 28 tấn vàng. Ra quân đợt đầu không một âm vang nhưng đem lại thành công rực rỡ, đảng Lao Động Việt Nam rất hài lòng và triều cống cho đảng CS Trung Quốc.

Paris 23/9/2012
Huỳnh Tâm

Sự trả thù mất trí (Thùy Linh)

"...nhân dân không còn gì để thế chấp, không còn gì để họ có thể cướp bóc, đàn áp ngoài sự oán thán, căm hậ..."



Ảo tưởng ban đầu về một nhà nước vì dân, do dân, của dân khiến người ta tự nguyện thế chấp sổ đỏ Hoài bão để tham gia cuộc đấu tranh long trời lở đất. Khi giành được chính quyền mọi người hân hoan và cho rằng, sự thế chấp sổ đỏ đó là xứng đáng.
Để chính quyền đó tồn tại và phát triển, người dân tiếp tục tự nguyện thế chấp sổ đỏ Hy sinh. Họ hy sinh xương máu, chịu đựng mọi gian khó để chính quyền không bị xâm hại. Vẫn tin tưởng sự hy sinh đó sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.
Khi chính quyền bộc lộ những yếu kém, người dân cố gắng thế chấp sổ đỏ Ảo tưởng rằng, để chính quyền vững mạnh, cần có những thất bại để làm bài học cho tương lai. Và chính quyền đang nỗ lực vì một tương lai cho chính họ và gia đình họ. Ảo tưởng khiến người dân tiếp tục hy sinh, chịu đựng.
Tới lúc chính quyền bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết, hạn chế người dân kiên nhẫn gán nợ sổ đỏ Cam chịu để hy vọng sự hồi tâm của kẻ có chức quyền – những người mà họ đã từng cưu mang, bảo vệ khi chiến tranh, loạn lạc, nghèo đói. Sự cam chịu lâu đến mức trở thành nét tính cách khiến họ bị “thua lỗ” trong cuộc thế chấp mịt mùng không lối thoát.
Sau những gì chính quyền của dân, do dân, vì dân thể hiện, người ta không còn tự nguyện mà bị cưỡng bức thế chấp sổ đỏ Niềm tin. Tước đoạt sổ đỏ này, chính quyền viện trợ “không hoàn lại” sự tuân phục. Tới đây người dân bắt đầu bị phân hóa: người cúi đầu ngoan ngoãn sử dụng sự tuân phục không hé lời; kẻ biến sự tuân phục có lợi cho bản thân mình trong con đường hoan lộ danh lợi, tiền tài…
Khi không còn gì hết ngoài sổ đỏ Chán ngán thì chính quyền thu gom theo nhiều cách, mà cách thông thường nhất là thu hồi đem tiêu hủy. Nhiều người buông xuôi để người ta sử dụng sổ đỏ đó theo tùy thích vì họ cũng không biết dùng để làm gì ngoài sự bất mãn, khó chịu. Số người khác đem sổ đỏ này đi thế chấp để mua Sự thật một cách âm thầm theo những cách có thể. Biết sự thật để thêm đau đớn, khổ sở, và sẽ càng khốn khổ nếu như họ lâm vào tình thế bất lực. Số ít không cam chịu nên dùng sổ đỏ Chán ngán đầu tư cho Niềm tin của mình và nhiều người khác. 
Tới lúc người dân không còn gì, ngoài lòng căm hận thì chính quyền độc tài tung dự án Đàn áp ra để chiếm đoạt sổ đỏ Tự do của con người. Sẽ có người bị khuất phục như là lý lẽ cuộc sống. Nhưng phần lớn là thất bại như là chân lý của lẽ phải. Vì có kẻ độc tài nào thu gom được Tự do tâm hồn? Tù đày, giam cầm, án phạt, bạo lực chỉ càng khiến những chiến binh thực thụ củng cố, tăng trưởng Tự do cho tâm hồn họ. Với những chiến binh này chính quyền đừng hy vọng bắt họ thế chấp sổ đỏ của Tự do – mà cao cả nhất, điều mà không một sức mạnh nào có thể tước đoạt được, đó là tự do tâm hồn. Những 12, 10 hay 4 năm tù đày chỉ là thời gian giam cầm thân xác, nhưng sức mạnh của những tâm hồn tự do kia có thể dẫn truyền đến hàng triệu người có lương tri trên toàn thế giới – một sức mạnh hơn cả bom nguyên tử, một sức mạnh không thể hủy diệt. 
Bản án dành cho những blogger cất tiếng nói ôn hòa gấp ba lần án tù cho những kẻ khoác áo công quyền để giết người đã là bản án tự kết án cho chế độ được tạo ra từ những nghịch lý: Ảo tưởng, Bất tin, Bất tín, Căm hận, Chán ngán…Và người xưa đã đúc kết: “bạo phát, bạo tàn”. Nếu chính phủ tiếp tục phát hành những “trái phiếu độc đoán, chuyên chế” thì họ sẽ gặt về dự án Sụp đổ như đã từng trước đây với những Vinashin, Vinaline…Bởi nhân dân không còn gì để thế chấp, không còn gì để họ có thể cướp bóc, đàn áp ngoài sự oán thán, căm hận – những cái mà chính quyền không hề muốn nhận về.
Không biết còn kéo dài bao lâu nữa sự trả thù mất trí này?  
Thùy Linh
Nguồn: blog buudoan.com

Ai tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN? (Bùi Tín)

9-2012
“…Không một ai khác có thể tự mình tuyên truyền chống lại mình một cách có hiệu quả cao như phiên tòa này…”




Blogger Tạ Phong Tần, Điếu Cày và AnhbaSaigon Phan Thanh Hải
Phiên tòa xét xử 3 nhà báo yêu nước từng lập ra Câu lạc bộ Nhà báo Tự do đã kết thúc lúc 13 giờ ngày 24/9/2012. Cuộc xét xử dự định diễn ra trong 2 ngày, cuối cùng chỉ có 1 buổi.

Tòa tuyên án nhà báo Nguyễn Văn Hải - Điếu Cày 12 năm tù giam, 5 năm quản thúc; nhà báo Tạ Phong Tần 10 năm tù giam, 5 năm quản thúc; nhà báo Phan Thanh Hải Anh Ba Sài Gòn 4 năm tù, 3 năm quản thúc, về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Phiên tòa này đi vào lịch sử nhà nước Việt Nam, lịch sử ngành tư pháp Việt Nam như một vết nhơ. Một bộ máy nhà nước do đảng CS dùng làm công cụ để khủng bố và trả thù 3 công dân yêu nước, 3 nhà báo có công tâm, sử dụng quyền tự do công dân được ghi trong Hiến pháp để truyền bá lập trường yêu nước của mình.

Chính phía nhà nước CS đã trước hết vi phạm pháp luật của chính họ khi kéo dài thời gian tạm giam các bị cáo đến 25 tháng và 12 tháng không chịu xét xử, còn vô cớ hoãn xét xử đến 3 lần.

Chính nhà nước do đảng CS dùng làm công cụ đã ngăn chặn bằng vũ lực các công dân tay không muốn đến dự phiên tòa từng được thông báo là công khai, còn đánh đập, chửi bới, đưa về đồn công an những người thân của bị cáo, tạo nên không khí căng thẳng, không khí khủng bố cả một vùng rộng quanh tòa án.

Chính nhà nước CS Việt Nam đã tự phơi bày thái độ chà đạp pháp luật của chính mình trước toàn xã hội, chính bộ chính trị đảng CS đã khiêu khích dư luận quốc tế, ngang nhiên thách thức các tổ chức nhân quyền Liên Hiệp Quốc, các chính phủ, các tổ chức Phóng viên không biên giới RSF, Ủy ban quốc tế bảo vệ các nhà báo CPJ, Đài quan sát bảo vệ nhân quyền …đã lớn tiếng nghiêm cách yêu cầu họ hãy tỉnh ngộ và tỏ ra phục thiện, tư trọng, trả ngay tự do cho những nhà báo – công dân được nói lên chính kiến của mình.

Qua việc xét xử qua loa, với mức án được định sẵn, bộ chính trị đảng CS Việt Nam diễn lại một trò hề, trực tiếp thách thức Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Clinton và Quốc hội Hoa Kỳ, trực tiếp khiêu khích phó Thủ tướng Đức Philipp Rosler và nhiều chính khách quốc tế, miệt thị 24.442 nhân vật thuộc mọi quốc tịch từng ký kiến nghị, vì các vị trên đây đều lên tiếng rõ ràng và đích danh bênh vực 3 nhà báo yêu nước trên đây.

Chính bộ chính trị, chính phủ, thủ tướng, bộ tư pháp, bộ công an, ngành kiểm sát, ngành tòa án đã tự mình trưng ra bộ mặt hung bạo, chà đạp pháp luật, liều lĩnh với thế giới, không còn biết phải trái, đúng sai là gì.
Chắc chắn họ sẽ phải chịu búa rìu tới tấp của công luận trong nước và của dư luận quốc tế.

Ba nhà báo yêu nước kiên cường tỏ ra rất kiên định dũng cảm trong nhà tù và trước tòa. Anh Điếu Cày còn công bố một bài thơ bất khuất làm trong tù, với những câu:

Cuộc đời tôi từ nay gắn bó
Với dòng sông tranh đấu quê hương
Chúng tôi đi vì quyền dân chưa đủ
Dù bị giam trong lao ngục đọa đày
Nhưng dòng sông vẫn không nghỉ một ngày
Chảy về phía Tự do Dân chủ
Ba nhà báo kiên cường bị tuyên án về tội «tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam», nhưng thật ra không ai tuyên truyền chống Nhà nước này bằng chính những phiên tòa bỏ túi trong không khí khủng bố do chính Nhà nước CS chủ trương, đạo diễn và thi hành bằng những công cụ chuyên chính phi pháp của họ. Họ không còn biết tự trọng, hổ thẹn là gì.

Chỉ có chính họ mới thực hiện xuất sắc, độc đáo đến như vậy việc tự bôi bẩn bộ mặt của chính mình, của một chế độ độc đảng ngang nhiên chà đạp tự do công dân. Không một ai khác có thể tự mình tuyên truyền chống lại mình một cách có hiệu quả cao như phiên tòa này.

Bùi Tín

Thông tin sạch thông tin bẩn (Hà Sĩ Phu)

9-2012
“...Thằng cháu nhà tôi nó bảo “Báo chưa qua sử dụng là báo còn trinh” đấy ông ạ...”


(Trò chuyện với bà hàng đồng nát)                                                                                            
Bà cụ đã có tuổi nhưng dáng dấp còn nhanh nhẹn, gánh đôi quang sọt chuyên nghề thu mua sách báo cũ. Một hôm dọn dẹp nhà cửa tôi gom được một đống sách báo cũ lưu niên. Bà cụ cân lên được khoảng 11-12 ký gì đó, tôi bảo thôi bà cứ tính 10 ký cho chẵn.
 Nhìn bà cụ xếp đống sách báo vào 2 chiếc sọt đã khá đầy, tôi có phần hơi ngượng, vì trong sọt đã có những chồng báo gọn ghẽ, vuông vắn, gần như mới tinh, mà chồng sách báo của tôi thì lôm côm cũ nát.
Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà cụ giải thích: Các ông nhà văn nhà báo thì sách báo thường cũ nát thế này, chứ sướng nhất là mua báo cũ của mấy ông cán bộ to của địa phương, báo chí cứ gọi là hàng chồng mới tinh soàn soạt, dùng gói thức ăn, gói hàng hay làm gì cũng tốt ông ạ.
Vừa nói bà cụ vừa lật cho xem mấy chồng báo mới tinh, hóa ra toàn là báo Nhân dân và Quân đội nhân dân (toàn có chữ “nhân dân”  cả).
Tôi bảo: Bà là người chuyên chở toàn những thông tin quan trọng của đảng và nhà nước đấy!
- Thông tin gì chẳng biết, cứ sạch là giá cao. Thằng cháu nhà tôi nó bảo “Báo chưa qua sử dụng là báo còn trinh” đấy ông ạ. Tôi chửi nó “Tiên sư nhà mày, chỉ được cái nói nhảm, báo chính thức của nhà nước chứ trò đùa của mày à?”...
 - Cậu ấy nói trinh sạch là nói cái tờ giấy mới tinh vô tội bà ạ, chứ cái ruột bên trong …
(Tôi không thể nói hết câu với bà cụ, vâng, còn cái ruột bên trong nó “trinh” hay “điếm”, nó sạch hay bẩn, tinh khôi hay cũ nát, có vì dân vì nước hay không thì thành phần bạn đọc, thái độ và số lượng người đọc chính là câu trả lời, chẳng ai nói thay họ được. Bà hàng đồng nát liệu có biết rằng những tờ báo cũ mà “mới toanh trinh tiết” bởi nó gói ghém những thứ cũ nhất, “bẩn” nhất trên đời, nó lớn tiếng trung thành mà thực ra là rất… “điếm”! ).
Hà Sĩ Phu

Đảng cộng sản hay tên lính đánh thuê? (Vũ Quốc Uy)

9-2012
“...Bên cạnh những kẻ cam tâm làm lính đánh thuê, nhất định còn những người tử tế, trong đó có những người 'tuy là đảng viên nhưng còn tốt'...”


Phiên tòa phi lý, phi nhân, tàn ác, dấm dúi, vụng trộm của cái thành phố mang tên “Bác Hồ vĩ đại” xử 3 bloggers đã đẩy nhận thức của xã hội về bản chất hiện nay của ĐCSVN lên “một tầm cao mới”, tuy bản chất này đã bắt đầu hiện ra rõ nét ngay từ khi hệ thống Cộng sản thế giới sụp đổ. Từ một đảng mang ngọn cờ cứu nước buổi đầu đã trượt dài thành một tên lính đánh thuê, chống lại Tổ quốc mình, chống lại cả quá khứ của mình nữa..
1/ Tên lính đánh thuê cho đồng tiền:
Trong tất cả những vụ cướp đất của dân để làm công trình này công trình nọ thì các lực lượng vũ trang của ĐCS, mà công an là chủ yếu (có thể huy động quân số hàng ngàn với vũ khí đủ loại), có nhiệm vụ đàn áp dân Việt Nam để lấy đất trao vào tay chủ đầu tư. Kẻ có đô-la không cần ra thực địa, cứ ngồi trong lâu đài mà “tọa hưởng kỳ thành” vì đã có mọi cấp ủy và lực lượng của ĐCSVN làm tên lính đánh thuê. Đã có những bài viết vạch rõ thực trạng “yêu tiền hơn yêu nước”, nghĩa là ngọn cờ yêu nước, cả sao vàng và búa liềm đã bị đồng đô-la dẫn dắt. Trong các xí nghiệp của tư bản nước ngoài, vẫn có từng chi bộ ĐCSVN nhưng công nhân vẫn bị bóc lột đến “teo cơ”! Đối xử với nông dân và công nhân như thế thì ĐCS còn có quyền đưa hình tượng búa liềm vào lá cờ của mình nữa hay không? Phải bị kiện về thương hiệu!
2/ Tên lính đánh thuê cho Cộng sản Đại Hán.
Bọn bành trướng Trung Quốc đã chiếm được bao nhiêu đất đai và cứ điểm khắp vùng biên giới, hải đảo, với bao nhiêu tài nguyên và di tích lịch sử, đã rải quân trên khắp địa bàn Việt Nam dưới đủ mọi hình thức…mà không tốn một viên đạn, vì sao? Vì đã có bọn “lính đánh thuê nội địa” tuyệt vời. Bọn lính đánh thuê này có đầu não là mười mấy ông “vua tập thể” có nhiệm vụ bí mật ký các thỏa hiệp dâng đất dâng biển, có quân đội và công an “tinh nhuệ” đảm bảo nhiệm vụ tiêu diệt những người tiên phong muốn chống xâm lược (mà Điếu Cày có vẻ là một tên đầu sỏ!) , lại có vài triệu “địa phương quân” là các đảng viên rải khắp hang cùng ngõ hẻm để khống chế từng người dân sao cho “ xã hội ổn định” tức là im re như không có gì xảy ra hết, cho đến ngày…mọi việc xong xuôi. Đánh thuê với quy mô, tận tâm và tài tình như vậy thật cũng đáng đồng tiền bát gạo của Thiên triều! Trung Cộng thuê ở đâu trên thế giới này một đội quân hầu đáng giá hơn?
Số phận tên “lính đánh thuê” hai tầng này thực ra đã tiềm ẩn ngay trong phương hướng chiến lược: Kinh tế thị trường và định hướng XHCN.
Muốn “phất” lên kinh tế thị trường đầy cạnh tranh nhưng tiềm lực không có gì, vốn kinh doanh chỉ có cái cái “quyền” tất nhiên phải đem quyền đổi lấy đô-la, nương tựa vào đô-la, cuối cùng phải đem quyền lực phải đánh thuê cho các đại gia, các nhà Tư bản.
Nói định hướng XHCN nhưng hệ thống XHCN tan rồi, Mác-Lê không còn sức sống, phải chui vào cái thòng lọng mà Trung Quốc đã treo sẵn. Thử hỏi nếu không có Tàu Cộng hà hơi tiếp sức thì ĐCSVN còn dám ba hoa XHCN với ai? Chui vào rọ của kẻ vốn rắp tâm xâm lược thì lập tức bị nó biến thành một chính phủ bù nhìn, thành một ngụy quyền như quy luật muôn đời vẫn thế. Kẻ xâm lược một khi dựng được ngụy quyền rồi thì chỉ cần xâm lược bằng các “thỏa thuận”, thỏa thuận và thỏa thuận!. Khi thì thỏa thuận với Tổng Bí thư, khi thì thỏa thuận với Bộ Quốc Phòng, lại vừa thỏa thuận với Thủ tướng (xuýt lưu vong?). Cứ hòa bình, cứ hữu nghị, cứ hát hò vui như tết, nếu cần thì cũng vẽ vời vài cuộc “đánh trận giả” cho xôm. Lực lượng vũ trang có nhiệm vụ đánh lại nhân dân mình để phục vụ cho mục đích bình định của kẻ xâm lược, rõ ràng là…đánh thuê!                                                                           
Viết xong mấy dòng này tôi đưa cho một vị đảng viên “cấp tiến” đọc xem sao. Vị ấy lặng người theo từng dòng chữ, nhưng cảm thụ đồng tình bằng những cái gật đầu, ngập ngửng, rất khẽ. Cuối cùng ngẩng lên, vừa như hỏi tôi vừa như tự hỏi mình : Chả nhẽ?...
-Vâng, chả nhẽ từ một “đảng tiền phong” giờ lại một đảng đánh thuê? Chả nhẽ trong đảng không còn một lực lượng nào tử tế? Không có nhẽ bác nhỉ?
Lại nhớ hôm qua, lúc tôi báo tin vụ xử Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Anh Ba SG là xử công khai nhưng vợ và con muốn đến liền bị bắt ngay và đánh cho một trận, bác “đồng chí” này không tin, cũng bảo “chả nhẽ”! Bấy lâu nay thông tin một chiều, bưng bít, nay bùng ra những sự thật ghê gớm không thể bác bỏ, khiến nhiều người bất ngờ như bác “đồng chí chả nhẽ” của tôi!.
Bên cạnh những kẻ cam tâm làm lính đánh thuê, bên cạnh số đông thờ ơ bỏ ngoài tai mọi việc, nhất định còn những người tử tế, trong đó có những người “tuy là đảng viên nhưng còn tốt”, thấy xót xa cho hiện tình đất nước, nhưng vì những ràng buộc và hạn chế chưa thể hoặc chưa dám gọi ra tên thật của tai họa, mà chưa chỉ ra đúng bệnh thì biết chữa cách nào?
Đã đến lúc phải gọi ra cho đúng tên của Sự thật, của nguy cơ đã quá rõ, chính là việc làm đầu tiên, cần thiết và bổ ích cho một số những ai còn ngập ngừng “chả nhẽ” ấy.
25/9/2012
Vũ Quốc Uy

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (Nguyễn Hưng Quốc)

9-2012
“...Chủ nghĩa xã hội thời Đặng Tiểu Bình lúc xua quân vào đánh Việt Nam năm 1979 là đích thực hay không đích thực...”



Bích chương thời "Trung Quốc xâm lược
Đọc xong bài phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh sau cuộc Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng lần thứ ba giữa Việt Nam và Trung Quốc, tôi cứ thấy tức anh ách.

Để cho công bằng, xin nói ngay ba điều. Thứ nhất, trong giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, ít nhất qua các cuộc phỏng vấn đăng tải trên báo chí, tôi có cảm tưởng ông Nguyễn Chí Vịnh là người ăn nói trôi chảy, mạch lạc và khôn ngoan nhất. Ông không ngu ngơ và ngô nghê như Nguyễn Minh Triết, cũng không giáo điều và cứng nhắc đến bất bình thường như Nguyễn Phú Trọng và cũng không ngọng nghịu vụng về như Nguyễn Tấn Dũng. Nói năng, Nguyễn Chí Vịnh có vẻ biết cân nhắc và biết nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau. Thứ hai, mặc dù có một số ưu điểm như vậy, bài phỏng vấn hay phát biểu nào của Nguyễn Chí Vịnh cũng có vấn đề: bên cạnh sự sắc sảo có không ít nhận định sai lầm đến ấu trĩ, thậm chí, ngớ ngẩn. Thứ ba, nhìn kỹ, những sự sắc sảo là của ông, còn những sai lầm là thuộc về chính sách, tức của cái đảng mà ông là một thành viên, hơn nữa, một thành viên cao cấp.

Ví dụ, trong bài phỏng vấn nhắc ở trên, Nguyễn Chí Vịnh chứng tỏ sự sắc sảo khi nhận định: Một, “chủ quyền, lãnh thổ là thiêng liêng, không thể đánh đổi. Đất đai, sông núi, biển đảo Việt Nam không chỉ là sở hữu của hơn 80 triệu người dân ngày hôm nay (1), mà quan trọng hơn, bờ cõi ấy đã được cha ông ta hàng nghìn năm qua gìn giữ để lại. Bờ cõi này cũng sẽ là sở hữu của các thế hệ người Việt Nam mai sau, là không gian sinh tồn của con cháu chúng ta. Không ai được phép nhân nhượng một tấc chủ quyền trên đất, trên trời, trên biển của Tổ quốc, và cũng là không gian sinh tồn và phát triển của muôn đời con cháu chúng ta mai sau.” Và hai, “[v]ấn đề Biển Đông là đại sự trong quan hệ hai nước. Không thể nói quan hệ Việt - Trung là tốt đẹp nếu Biển Đông vẫn còn tồn tại những bất đồng có nguy cơ trở thành xung đột.”

Tuy nhiên, ông lại vấp phải rất nhiều sai lầm. Ở đây, tôi chỉ xin tập trung vào hai điểm sai lầm căn bản nhất. Một, ông khuyên bảo “Chúng ta luôn phải nhớ nằm lòng kim chỉ nam ‘Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội’ mà Đảng ta và Bác Hồ đã chỉ ra, bảo vệ vững chắc chế độ XHCN mới giữ được độc lập chủ quyền.” Hai, ông tin là Việt Nam và Trung Quốc có thể giải quyết các tranh chấp nếu cả hai cùng tin là “con đường Việt Nam và con đường Trung Quốc đang đi là một CNXH đích thực, một CNXH độc lập, vững vàng, không thể bị chuyển hóa bởi những yếu tố bên ngoài mặc dù chúng ta đang sống trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ.”

Cả hai ý trên, ai cũng biết, đều là chủ trương chung của chính quyền Việt Nam hiện nay. Không phải chỉ có Nguyễn Chí Vịnh mà hầu như tất cả các nhà lãnh đạo khác cũng đều nói như thế.

Ai cũng nói thế. Nhưng cả hai quan điểm ấy đều sai. Sai một cách rất hiển nhiên.

Thứ nhất, độc lập dân tộc có phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội không? Ngay cả học sinh trung học, có chút xíu kiến thức về lịch sử và chính trị thế giới cũng biết là: không. Hiện nay, trên thế giới chỉ còn năm quốc gia theo chủ nghĩa xã hội: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn và Cuba. Dĩ nhiên đó không phải là năm quốc gia độc lập duy nhất trên thế giới. Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có tổng cộng 193 thành viên. Chắc chắn đó không phải là con số đầy đủ. Trong danh sách ấy không có Vatican và Kosovo. Trong danh sách do Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra, con số quốc gia thực sự lên đến 195 nước. Có bao nhiêu nước trong danh sách ấy không độc lập? Có. Nhưng chắc chắn là rất ít. Cứ nhìn vào các nước thành viên khối ASEAN thì thấy. Trong số 10 nước, trừ Việt Nam và Lào, tám nước còn lại đều không theo chủ nghĩa xã hội nhưng lại vẫn độc lập, hơn nữa, một số nước còn rất phát triển và giàu có, chắc chắn là hơn hẳn Việt Nam: Brunei Darussalam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore và Thái Lan. Tại sao? Họ có cần chủ nghĩa xã hội không? Nói như vậy ở vào đầu thế kỷ 20, khi Hồ Chí Minh “phát hiện” ra “Luận cương Lênin” về vấn đề giải phóng dân tộc và chống lại chủ nghĩa đế quốc thì nghe còn được được. Nhưng đến giữa thế kỷ 20 thì đã nghe vô duyên. Còn ở vào đầu thế kỷ 21 như hiện nay thì không những vô duyên mà còn dở hơi.

Thứ hai, về niềm tin vào “tình hữu nghị” đối với Trung Quốc với lý do cả hai quốc gia, Việt Nam và Trung Quốc, đều theo chủ nghĩa xã hội, cũng sai nốt, thậm chí, còn sai lầm một cách trầm trọng hơn cả nhận định thứ nhất ở trên. Trầm trọng vì, một, nó phi lý; và hai, vì nó có thể tạo nên những ảo tưởng cực kỳ nguy hiểm. Sau năm 1975, tức là sau khi chiến tranh Nam Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm mấy cuộc chiến tranh nữa nhỉ? Lớn, có hai: một, chiến tranh với Campuchia; và hai, với Trung Quốc. Chiến tranh với Campuchia kéo dài khá lâu, đến 14 năm, thoạt đầu, ngay từ sau 1975, với các cuộc chiến tranh lẻ tẻ dọc theo biên giới; sau, năm 1978, là chiến tranh tổng hợp với sự tham gia, về phía Việt Nam, của trên 150.000 quân lính; cuối cùng, từ năm 1978 đến 1989, là cuộc chiếm đóng của Việt Nam trên đất Campuchia. Chiến tranh với Trung Quốc ngắn hơn, chia làm hai sự kiện chính: Một, chiến tranh vào đầu năm 1979 khi 400.000 quân Trung Quốc tràn qua biên giới phía Bắc. Cuộc chiến kéo dài chỉ có mấy tuần nhưng thiệt hại về nhân mạng lại khá cao: về phía Trung Quốc, có khoảng trên 25.000 người bị giết chết; con số ấy, về phía Việt Nam, còn rất mơ hồ, từ 10.000 (theo báo chí Việt Nam) đến trên 40.000 người (theo các nguồn tin từ Trung Quốc). Hai, cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào một số đảo ở Trường Sa vào năm 1988 với hậu quả: về nhân mạng, Trung Quốc có khoảng trên 20 lính bị thương vong; Việt Nam mất 64 bộ đội và ba tàu vận tải; về lãnh thổ, Việt Nam mất các bãi đá: Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma, Chữ Thập và Ga Ven cũng như một số hòn đảo khác.

Nhưng Campuchia và Trung Quốc là ai? Theo chế độ nào?

Xin thưa: Cả hai đều là các nước xã hội chủ nghĩa!

Có lẽ ông Nguyễn Chí Vịnh thừa biết nói thế là dại dột, nên ông thêm cái đuôi phía sau: “chủ nghĩa xã hội đích thực”, “một CNXH độc lập, vững vàng, không thể bị chuyển hóa bởi những yếu tố bên ngoài”. Nhưng, tránh dại dột, ông lại vấp phải mâu thuẫn: ông mới khẳng định là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm được độc lập, bây giờ, ông lại nhấn mạnh đến một thứ “chủ nghĩa xã hội độc lập”, tức là gián tiếp thừa nhận là có một loại chủ nghĩa xã hội khác, không độc lập. Ngoài ra, thế nào là “chủ nghĩa xã hội đích thực”? Chủ nghĩa xã hội thời Đặng Tiểu Bình lúc xua quân vào đánh Việt Nam năm 1979 là đích thực hay không đích thực? Bất kể cách hiểu của Việt Nam thế nào, từ phía Trung Quốc, mọi người đều cho chủ nghĩa xã hội ở nước họ hiện nay là con đẻ của Đặng Tiểu Bình. Nói cách khác, dù đích thực hay không đích thực thì chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc cũng chẳng đáng tin cậy chút nào cả.

Nói cách khác nữa, dù rào đón đến mấy, Nguyễn Chí Vịnh vẫn cứ sai. Một cái sai rất căn bản.

Và nguy hiểm.

 Nguyễn Hưng Quốc
Nguồn:blog Nguyễn Hưng Quốc voatiengviet.com

(1) Thật ra, dân số Việt Nam vào năm 2011 là khoảng 87,84 triệu người; vào năm 2012 này là khoảng trên 88 triệu. Nếu tính cả người Việt ở hải ngoại thì trên 90 triệu người.

Khí tiết (Phạm Hồng Sơn)

9-2012
“...Không yếu, không sợ thì sao trong thời đại này lại dùng đến gần 20 năm trời để cầm cố một tiếng nói?...”



Trong truyện ngụ ngôn kinh điển về sự mâu thuẫn và thách thức giữa kẻ mạnh – con mèo và người yếu – lũ chuột, có thể thấy một sự đúc kết rất rõ ràng rằng kể cả khi có thừa trí tuệ nhưng nếu thiếu khí tiết, thiếu lòng quả cảm, hi sinh thì vẫn không thể thoát được phận nô lệ. Đến việc thực hiện sáng kiến vĩ đại đeo chuông vào cổ mèo thì chuột nào cũng lảng nên từ hàng ngàn năm nay chuột vẫn là chuột.
Có lẽ những người cầm quyền (nguồn gốc) cộng sản ở Việt Nam thuộc những người nghiên cứu kĩ nhất câu truyện trên. Nhưng họ lại thuộc về bên phản diện, đương nhiên lúc họ đã cầm  quyền. Trước khi nắm quyền những người cộng sản cũng thuộc những người có khí tiết nhất trong cuộc đấu tranh chống lại ách nô lệ. Nhưng tiếc thay cái khí tiết đó ngay từ thuở ban đầu đã bị nhuốm nặng tinh thần bang hội, đảng phái, chứ không phải thứ khí tiết thuần công lí, nhân bản. Trong Đời viết văn của tôi [i]Nguyễn Công Hoan kể lại một ấn tượng mạnh về người cộng sản những năm đầu 1930:

“Nhưng một bài tường thuật một vụ án đăng trên báo làm tôi kinh ngạc và xúc động hơn hết. Đó là vụ tòa xử một anh thanh niên mà tôi không quen, nhưng có biết mặt và biết tên. Đó là anh Trịnh Đình Cửu. Hồi còn học ở  Hà Nội, ngày bốn buổi, tôi qua nhà anh, ở số 61, Hàng Đào, tôi vẫn thấy anh mặc đồ tây, quần ngắn, đứng ở hiên gác, nhìn xe điện đi qua. Anh hơn tôi độ một hai tuổi. Tôi còn biết anh là con bà Tú Mẫn. Anh Cửu gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội mà tôi cũng rõ là Đảng Cộng sản, ngày ấy gọi tắt là ‘Két’. Anh bị bắt. Và chắc chắn là bọn mật thám không cậy được ở anh một nửa lời khai báo, nên chúng mới định đánh vào mặt tình cảm của anh. Hôm đưa anh ra tòa, chúng bắt cả bà Tú ra. Bà Tú thấy anh, cố nhiên là mặc quần áo tù, đầu cạo trọc và thân hình gầy gò, thì bà khóc. Chúng cho anh nhìn bà, và dỗ anh rằng nếu khai thì sẽ được tha. Nhưng ngờ đâu anh không nhìn mẹ, mà quay mặt đi, rồi đập vào mặt bọn quan tòa một cái tát chết điếng bằng một câu nói hết sức cứng rắn: ‘Tôi chỉ biết có Đảng’.[ii]

Nhưng từ năm 1954 đến nay những người cộng sản cầm quyền đều xử sự với những người có khí tiết, còn khí tiết bằng một chính sách, dù với nhiều biến thể khác nhau, nhất quán trước sau như một: vùi dập. Dù có là người dựng tượng đài cho ngày lên bục quyền lực của người cộng sản như Nguyễn Hữu Đang thì cũng phải lên “Cổng trời” [iii]nếu cứ nhất quyết giữ khí tiết với tự do ngôn luận. Một tài năng khiến người Âu cũng phải nể phục như Nguyễn Mạnh Tường nhưng vì có khí tiết phê phán độc tài nên rốt cuộc cũng bị “rút phép thông công”. Và Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Trần Độ… đều bị cầm cố, bức hại mỗi người mỗi khác nhưng đều có chung một phẩm chất: khí tiết bảo tồn lương tâm con người. Còn những người đứng trước “tòa án” vẫn giữ nguyên khí tiết bao giờ cũng phải nhận rất nhiều năm tù hơn so với những người khác cùng đứng. Những người cộng sản cầm quyền luôn cố cầm giữ, che giấu khí tiết của con người. Những tường thuật trên báo chí hay đưa tin về những “phiên tòa” trên TV chưa bao giờ thấy ghi lại hay phát âm thanh những lời nói trước “tòa án nhân dân” của những người như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Túc, Tạ Phong Tần hay Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày),…

Chắc chắn những người cầm quyền cộng sản Việt Nam đã khôn hơn con mèo ngụ ngôn. Họ biết con người nô lệ không phải là một định mệnh như lũ chuột. Chính vì thế, không như mèo, họ không bao giờ thờ ơ hay thấy nhọc công, nhàm chán trong việc mua chuộc, vùi dập, triệt tiêu, hay giấu biệt khí tiết con người.
Nhưng cái dở nhất của thiếu khí tiết, vắng khí tiết chưa hẳn đã là sự sợ hãi tới mức không dám hành động, không dám đeo chuông vào cổ mèo. Mất khí tiết làm người ta không nhận ra được những điểm yếu, những nỗi sợ của cái ác.
Không yếu, không sợ thì sao trong thời đại này lại dùng đến gần 20 năm trời để cầm cố một tiếng nói? [iv]
Phạm Hồng Sơn
Nguồn: procontra.asia
[i]Nguyễn Công Hoan, Đời viết văn của tôi, Nxb Văn Học, 1971
[ii]Sách đã dẫn, trang 129-130
[iii]Tên thường gọi của một nhà tù khét tiếng trên Hà Giang của chính quyền cộng sản miền Bắc sau năm 1954.
[iv]Nhà nước Việt Nam vừa kết án ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày, sinh năm 1952) 12 năm tù giam và 5 năm quản chế vì đã có những hoạt động cổ xúy cho tự do báo chí, tự do ngôn luận, chống Trung Quốc xâm lược và không chịu cúi đầu nhận tội trước “phiên tòa công khai”ngày 24/09/2012. Ngay trước vụ án này ông Nguyễn Văn Hải đã phải thụ một án 2,5 tù giam cho cáo buộc “trốn thuế” vào năm 2008.